← E-Magazine

E-MAGAZINE · VINH QUANG VIỆT NAM

Bài viết phân tích thực tiễn xây dựng thể chế hành chính kiến tạo phát triển ở Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên mới.

15/10/2026 1 phút đọc

Từ thể chế phát triển đến thể chế hành chính kiến tạo phát triển

Trong tiến trình đổi mới và phát triển đất nước, thể chế luôn được Đảng ta xác định là một trong những đột phá chiến lược, có ý nghĩa nền tảng đối với việc giải phóng nguồn lực, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững. Bàn về thể chế hành chính kiến tạo phát triển ở Việt Nam không chỉ là bàn về cải cách thủ tục hành chính, tinh gọn tổ chức bộ máy hay phân cấp, phân quyền theo nghĩa kỹ thuật; mà sâu xa hơn, đó là bàn về cách thức quyền lực hành chính được thiết kế, vận hành và kiểm soát để phục vụ phát triển; bàn về mối quan hệ giữa Nhà nước với thị trường, xã hội, người dân và doanh nghiệp; bàn về năng lực của nền hành chính trong việc dự báo, phản ứng chính sách, điều phối nguồn lực, bảo đảm quyền và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Như vậy, có thể hiểu: thể chế hành chính kiến tạo phát triển là tổng thể các quy định pháp luật, cơ chế tổ chức, phương thức vận hành, cơ chế phân cấp, phân quyền, kiểm soát quyền lực, trách nhiệm giải trình và văn hóa công vụ nhằm bảo đảm nền hành chính không chỉ thực hiện chức năng quản lý nhà nước, mà còn chủ động tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển, bảo đảm quyền, khơi thông nguồn lực và nâng cao chất lượng phục vụ người dân, doanh nghiệp.

Những đặc trưng cơ bản của thể chế hành chính kiến tạo phát triển

Thứ nhất, lấy người dân, doanh nghiệp và lợi ích công làm trung tâm. Nền hành chính kiến tạo phát triển không coi người dân, doanh nghiệp là đối tượng quản lý thụ động, mà là chủ thể của quá trình phát triển, là đối tác trong xây dựng và thực thi chính sách. Chất lượng hành chính không chỉ thể hiện qua số lượng văn bản ban hành hay thủ tục được xử lý, mà phải được đo bằng mức độ hài lòng, mức độ tiếp cận quyền, chi phí tuân thủ, chất lượng dịch vụ công và tác động phát triển. Thứ hai, chuyển từ hành chính “quản lý - cho phép” sang hành chính “phục vụ - đồng hành - kiến tạo”. Trong mô hình kiến tạo phát triển, cơ quan hành chính phải trở thành chủ thể thiết kế môi trường pháp lý, điều phối nguồn lực, hỗ trợ sáng tạo, tháo gỡ điểm nghẽn và đồng hành với người dân, doanh nghiệp trong khuôn khổ pháp luật.

Thứ ba, phân cấp, phân quyền đi đôi với kiểm soát quyền lực và bảo đảm nguồn lực. Phân cấp, phân quyền không chỉ là chuyển giao nhiệm vụ từ Trung ương xuống địa phương, mà là thiết kế lại cấu trúc thẩm quyền theo nguyên tắc việc nào, cấp nào thực hiện hiệu quả hơn thì giao cho cấp đó. Đồng thời, thẩm quyền được giao phải đi kèm nguồn lực, dữ liệu, nhân lực, ngân sách và cơ chế chịu trách nhiệm.

Thứ tư, quản trị dựa trên pháp luật, dữ liệu và trách nhiệm giải trình. Trong kỷ nguyên số, nền hành chính kiến tạo phát triển không thể chỉ dựa trên báo cáo giấy, xin ý kiến tầng nấc và quản lý thủ công. Quản trị hiện đại đòi hỏi dữ liệu liên thông, hệ thống thông tin thời gian thực, công khai, minh bạch, đánh giá theo kết quả đầu ra và truy được trách nhiệm đến từng cơ quan, từng cá nhân có thẩm quyền.

Thứ năm, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và quyền tự do kinh doanh trong hoạt động hành chính. Một nền hành chính kiến tạo phát triển phải coi bảo đảm quyền là trục xuyên suốt. Quyền không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp và luật, mà phải được bảo đảm trong từng quy trình cấp phép, thanh tra, kiểm tra, xử phạt, cung cấp dịch vụ công, giải quyết khiếu nại, tố cáo và tiếp cận thông tin. 

Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ Phạm Thị Thanh Trà và đoàn công tác thăm Trung tâm Phục vụ hành chính công phường Vĩnh Tế, tỉnh An Giang, ngày 18/3/2026.

Văn kiện Đại hội XIV của Đảng

Đại hội XIV của Đảng đặt ra yêu cầu đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển và phương thức quản trị quốc gia. Văn kiện Đại hội không chỉ đặt ra mục tiêu phát triển, mà còn đặt ra yêu cầu về phương thức phát triển: phát triển phải dựa trên đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, quản trị hiện đại, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân. Điểm mới đáng chú ý trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là yêu cầu kiến tạo phát triển không còn chỉ được đặt ra trong lĩnh vực kinh tế, mà mở rộng sang toàn bộ hệ thống quản trị quốc gia. Điều này đòi hỏi nền hành chính phải đổi mới từ tư duy, tổ chức, phương thức vận hành đến năng lực cán bộ, công chức. Nền hành chính có khả năng nhận diện vấn đề phát triển, dự báo rủi ro chính sách, điều phối liên ngành, liên vùng, thiết kế giải pháp, huy động nguồn lực xã hội và bảo đảm công bằng trong tiếp cận cơ hội phát triển.

Nghị quyết số 27-NQ/TW và yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (khóa XIII) về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới là cơ sở chính trị - pháp lý đặc biệt quan trọng cho việc đổi mới thể chế hành chính. Nghị quyết đặt ra ít nhất bốn yêu cầu lớn. Một là, nền hành chính phải vận hành trên cơ sở pháp quyền, nghĩa là mọi hoạt động hành chính đều phải dựa trên Hiến pháp và pháp luật, không tùy tiện, không lạm quyền. Hai là, quyền lực hành chính phải được kiểm soát bằng pháp luật, bằng giám sát của cơ quan dân cử, bằng kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, bằng trách nhiệm giải trình và bằng sự giám sát của Nhân dân. Ba là, tổ chức bộ máy hành chính phải tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Bốn là, phải bảo đảm quyền con người, quyền công dân trong thực tiễn quản lý nhà nước.

Nghị quyết số 66-NQ/TW và yêu cầu đưa pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh phát triển

Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới nhấn mạnh việc xây dựng hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng, đồng bộ, thống nhất, công khai, minh bạch, khả thi; tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho kiến tạo phát triển; huy động sự tham gia của người dân, doanh nghiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội; khắc phục tư duy “không quản được thì cấm”; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh. Đối với thể chế hành chính, tinh thần này đặt ra yêu cầu phải đổi mới cả xây dựng pháp luật hành chính và tổ chức thi hành pháp luật hành chính. 

Thực tiễn thể chế hành chính kiến tạo phát triển ở Việt Nam

Thứ nhất, thể chế hành chính vẫn còn tình trạng chồng chéo, phân tán và thiếu đồng bộ trong một số lĩnh vực. Điều này làm giảm khả năng phản ứng chính sách, nhất là trong các vấn đề như quy hoạch, đất đai, môi trường, đầu tư công, chuyển đổi số, phát triển đô thị, liên kết vùng, ứng phó biến đổi khí hậu.

Thứ hai, phân cấp, phân quyền có nơi, có lúc chưa đi kèm nguồn lực và cơ chế chịu trách nhiệm tương xứng. Một số nhiệm vụ được chuyển giao cho địa phương nhưng nguồn lực tài chính, nhân lực, dữ liệu, hướng dẫn chuyên môn và thẩm quyền quyết định chưa đầy đủ. Điều này làm cho cấp dưới vừa phải thực hiện nhiều việc hơn, vừa chịu rủi ro pháp lý cao hơn, dẫn đến tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, đùn đẩy hoặc xin ý kiến ngược trở lại cấp trên.

Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính tuy đạt nhiều kết quả nhưng vẫn chưa giải quyết triệt để chi phí tuân thủ và rủi ro tùy nghi hành chính. Một số thủ tục được cắt giảm về số lượng nhưng quy trình thực tế vẫn phức tạp; một số điều kiện kinh doanh, giấy phép con, yêu cầu hồ sơ, quy trình phối hợp liên thông còn tạo gánh nặng cho người dân, doanh nghiệp.

Thứ tư, chất lượng tổ chức thi hành pháp luật hành chính chưa đồng đều. Cùng một quy định pháp luật nhưng cách hiểu và cách thực hiện có thể khác nhau giữa các ngành, địa phương, thậm chí giữa các cán bộ trong cùng một cơ quan. Điều này làm suy giảm tính thống nhất của pháp luật, tăng chi phí không chính thức và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân, doanh nghiệp.

Thứ năm, trách nhiệm giải trình trong hoạt động hành chính chưa thực sự trở thành văn hóa quản trị phổ biến. Khi trách nhiệm giải trình chưa rõ, quyền lực hành chính dễ trở nên khép kín, tùy nghi và khó kiểm soát. Thứ sáu, chuyển đổi số trong hành chính còn có khoảng cách giữa hạ tầng kỹ thuật và đổi mới thể chế vận hành. Nhiều hệ thống thông tin được xây dựng nhưng dữ liệu chưa liên thông, tiêu chuẩn dữ liệu chưa thống nhất, quy trình chưa được tái thiết kế, cán bộ chưa đủ kỹ năng số, người dân chưa thực sự thuận tiện khi sử dụng dịch vụ công trực tuyến.

Những yêu cầu đặt ra

Một là, chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị phát triển. Thể chế hành chính kiến tạo phát triển đòi hỏi phải chuyển từ tư duy quản lý sang tư duy quản trị phát triển. Quản lý nhấn mạnh đến mệnh lệnh, kiểm soát và tuân thủ; quản trị phát triển nhấn mạnh đến mục tiêu, kết quả, phối hợp, trách nhiệm, sự tham gia và tác động chính sách. Nền hành chính trong kỷ nguyên mới không chỉ cần “làm đúng quy trình”,mà phải “tạo ra kết quả phát triển đúng mục tiêu”. Điều này không có nghĩa là xem nhẹ quy trình, mà là phải thiết kế quy trình để phục vụ mục tiêu phát triển, chứ không biến quy trình thành rào cản của phát triển.

Hai là, xây dựng bộ máy hành chính tinh, gọn, rõ chức năng, rõ thẩm quyền. Trong điều kiện thực hiện các chủ trương lớn về sắp xếp tổ chức bộ máy, chính quyền địa phương và phân định thẩm quyền giữa các cấp, cần đặc biệt chú trọng nguyên tắc: tổ chức bộ máy phải đi sau chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu phục vụ phát triển. Không nên bắt đầu bằng câu hỏi “giữ cơ quan nào, bỏ cơ quan nào”, mà phải bắt đầu bằng câu hỏi “Nhà nước cần làm gì, cấp nào làm tốt nhất, cơ chế phối hợp ra sao, nguồn lực nào đi kèm, ai chịu trách nhiệm cuối cùng”.

Ba là, phân cấp, phân quyền thực chất gắn với kiểm soát quyền lực. Phân cấp, phân quyền là yêu cầu trung tâm của thể chế hành chính kiến tạo phát triển. Nhưng phân cấp, phân quyền chỉ thực chất khi trả lời được năm câu hỏi: việc gì Trung ương phải giữ để bảo đảm thống nhất quốc gia; việc gì địa phương có thể quyết định nhanh hơn, sát thực tiễn hơn; nguồn lực nào đi kèm với thẩm quyền được giao; cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực được thiết kế như thế nào; địa phương được phép sáng tạo, thử nghiệm chính sách đến đâu trong khuôn khổ pháp luật.

Bốn là, bảo đảm quyền trong hoạt động hành chính. Một nền hành chính kiến tạo phát triển phải được đánh giá trước hết bằng khả năng bảo đảm quyền. Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, quyền con người, quyền công dân không chỉ là tuyên ngôn chính trị, mà phải là chuẩn mực ràng buộc toàn bộ hoạt động của quyền lực nhà nước. Đối với hành chính nhà nước, bảo đảm quyền thể hiện ở nhiều phương diện: quyền được tiếp cận thông tin; quyền tham gia góp ý chính sách; quyền được phục vụ công bằng; quyền tự do kinh doanh; quyền sở hữu tài sản; quyền khiếu nại, tố cáo; quyền được bồi thường khi bị thiệt hại do quyết định, hành vi hành chính trái pháp luật; quyền được giải trình về các quyết định ảnh hưởng đến lợi ích hợp pháp của mình.

Năm là, chuyển đổi số và quản trị dựa trên dữ liệu, thể chế hành chính kiến tạo phát triển đòi hỏi phải tái thiết kế quy trình hành chính trên nền tảng dữ liệu. Điều này bao gồm: liên thông dữ liệu giữa các cơ quan; giảm yêu cầu người dân, doanh nghiệp phải nộp lại thông tin Nhà nước đã có; công khai tiến độ xử lý hồ sơ; sử dụng dữ liệu để giám sát thực thi công vụ; phân tích dữ liệu để phát hiện điểm nghẽn; đánh giá chính sách dựa trên bằng chứng; chuyển từ báo cáo thủ công sang quản trị theo thời gian thực. Trong kỷ nguyên số, Trung ương không nhất thiết phải can thiệp vi mô vào mọi quyết định của địa phương, nhưng có thể giám sát kết quả thực hiện thông qua dữ liệu. Địa phương được trao quyền nhiều hơn, nhưng phải công khai, minh bạch, giải trình được và chịu đánh giá bằng kết quả đầu ra. Đây chính là hướng chuyển từ quản lý bằng tiền kiểm, xin phép sang quản lý bằng tiêu chuẩn, dữ liệu, hậu kiểm và trách nhiệm giải trình.

Thường trực Ủy ban Pháp luật và Tư pháp của Quốc hội làm việc với các cơ quan tư pháp của địa phương để khảo sát thực tiễn thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự và đề xuất hoàn thiện dự thảo Bộ luật Tố tụng hình sự (sửa đổi), ngày 10/9/2026.

Cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở.

Thứ nhất, đổi mới tư duy thể chế hành chính từ “quản lý nhà nước” sang “quản trị phát triển”. Cần chuyển mạnh sang tư duy quản trị phát triển, trong đó Nhà nước đóng vai trò định hướng, thiết kế thể chế, bảo đảm công bằng, điều phối nguồn lực, kiểm soát rủi ro và tạo điều kiện cho các chủ thể xã hội phát huy năng lực sáng tạo. Đổi mới tư duy thể chế hành chính cũng đòi hỏi phải thay đổi cách đánh giá hiệu quả hành chính. Không chỉ đánh giá bằng số lượng văn bản, số hồ sơ xử lý, số cuộc thanh tra, kiểm tra, mà phải đánh giá bằng mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp; mức giảm chi phí tuân thủ; mức độ minh bạch; năng lực giải quyết điểm nghẽn; tác động đến phát triển kinh tế - xã hội; khả năng bảo đảm quyền và công bằng trong tiếp cận dịch vụ công.

Thứ hai, hoàn thiện pháp luật về tổ chức bộ máy hành chính theo hướng rõ chức năng, rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm. Cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện pháp luật về tổ chức Chính phủ, chính quyền địa phương, cơ quan chuyên môn, đơn vị sự nghiệp công lập và các thiết chế phối hợp liên ngành, liên vùng. Trọng tâm không chỉ là tinh gọn đầu mối, mà là phân định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và trách nhiệm cuối cùng của từng cơ quan. Cần xác lập rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, thời hạn phối hợp, trách nhiệm khi chậm trễ, cơ chế xử lý bất đồng và trách nhiệm giải trình trước người dân, doanh nghiệp. 

Thứ ba, đổi mới phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc “việc nào, cấp nào làm tốt nhất thì giao cho cấp đó”. Phân cấp, phân quyền cần được thiết kế trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế, điều kiện phát triển, yêu cầu quản trị và khả năng kiểm soát quyền lực. Không nên phân cấp, phân quyền theo cách đồng loạt, cơ học, mà cần có lộ trình, tiêu chí và cơ chế đánh giá. Địa phương nào có năng lực tốt, dữ liệu tốt, cán bộ tốt, khả năng tự chủ cao thì có thể được trao quyền rộng hơn; địa phương còn hạn chế cần được hỗ trợ, đào tạo và giám sát chặt chẽ hơn.

Cùng với trao quyền, phải trao nguồn lực. Nguồn lực ở đây không chỉ là ngân sách, mà còn là nhân lực, dữ liệu, công nghệ, hướng dẫn chuyên môn, quyền chủ động trong tổ chức thực hiện và quyền quyết định phải đi đôi với cơ chế thu hồi, điều chỉnh hoặc hỗ trợ khi địa phương không đáp ứng yêu cầu. Đây là cách tiếp cận linh hoạt, vừa khuyến khích sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn thể chế.

Thứ tư, chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, quản lý theo tiêu chuẩn, dữ liệu và rủi ro. Nhà nước cần quy định rõ tiêu chuẩn, điều kiện, trách nhiệm của chủ thể; công khai dữ liệu; tăng kiểm tra sau khi hoạt động; xử lý nghiêm vi phạm; đồng thời giảm thiểu những thủ tục cấp phép không cần thiết. Cách tiếp cận này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 66-NQ/TW về khắc phục tư duy “không quản được thì cấm”, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho kiến tạo phát triển và đổi mới sáng tạo.

Thứ năm, xây dựng nền hành chính số, dữ liệu công và cơ chế giám sát theo thời gian thực. Cần hoàn thiện pháp luật về dữ liệu công, chia sẻ dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, định danh số, lưu trữ điện tử, hồ sơ điện tử, chữ ký số, kết nối liên thông giữa các cơ quan và trách nhiệm sử dụng dữ liệu trong quản lý nhà nước. Đồng thời, dữ liệu phải được sử dụng để giám sát thực thi công vụ: hồ sơ chậm ở đâu, tắc ở khâu nào, cán bộ nào xử lý, lý do chậm là gì, người dân có thể theo dõi và phản ánh ra sao. Hành chính số cũng phải gắn với công khai minh bạch. Đây là điều kiện quan trọng để tăng niềm tin, giảm chi phí không chính thức và nâng cao trách nhiệm giải trình.

Thứ sáu, bảo đảm quyền và kiểm soát xung đột lợi ích trong thiết kế, thực thi chính sách hành chính. Mỗi chính sách hành chính mới cần được đánh giá tác động đến quyền, chi phí tuân thủ và cơ hội phát triển của người dân, doanh nghiệp. Đối với các quy định hạn chế quyền, cần làm rõ căn cứ hiến định, mục tiêu chính đáng, tính cần thiết, tính tương xứng và cơ chế kiểm soát. Bên cạnh đó, cần công khai hóa quá trình xây dựng chính sách; tăng cường vai trò của chuyên gia, hiệp hội, người dân, doanh nghiệp; thiết lập cơ chế giải trình bắt buộc đối với việc tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến góp ý; đồng thời kiểm soát trách nhiệm của cơ quan soạn thảo, cơ quan thẩm định và cơ quan ban hành.

Thứ bảy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu hành chính kiến tạo phát triển. Cần tiếp tục đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức theo hướng gắn với yêu cầu quản trị hiện đại, quản lý theo kết quả, nhà nước kiến tạo phát triển, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, quản trị rủi ro công và năng lực thiết kế thể chế. Đồng thời, cần đổi mới cơ chế đánh giá cán bộ, công chức, viên chức dựa trên kết quả, chất lượng phục vụ, tinh thần trách nhiệm, khả năng sáng tạo và mức độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp. Cần bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, nhưng cũng phải xử lý nghiêm cán bộ lợi dụng đổi mới, sáng tạo để vi phạm pháp luật, trục lợi hoặc làm sai nguyên tắc. 

 

 

Agribank đồng hành cùng các tỉnh, thành phố, triển khai mô hình Kiosk hành chính công thông minh.

Đất nước sẽ đạt được mục tiêu và sẽ tiếp tục hoàn thiện thể chế để có những đòn bẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Nxb CTQG-ST, H.2026.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.

3. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

4. Quốc hội, Hiến pháp năm 2013.

5. Quốc hội, Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025.

6. Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2025.

7. Quốc hội, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025.

8. Lê Minh Thông, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về phân cấp, phân quyền tại Việt Nam, tài liệu hội thảo về phân cấp, phân quyền, năm 2024.

9. Trần Thị Diệu Oanh, Đổi mới tư duy và quy trình xây dựng luật ở Việt Nam hướng tới quản trị lập pháp kiến tạo phát triển và bảo đảm quyền, Tạp chí Pháp luật về quyền con người số tháng 02/2025.