← E-Magazine

E-MAGAZINE · VINH QUANG VIỆT NAM

ĐIỂM NGHẼN TRONG VẬN HÀNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP Ở VIỆT NAM SAU MỘT NĂM TRIỂN KHAI VÀ GIẢI PHÁP KHẮC PHỤC

15/10/2026 1 phút đọc

Hội nghị toàn quốc sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp, ngày 01/7/2026.

Sau một năm triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, kết quả cho thấy mô hình này đã tạo được những chuyển biến tích cực về mọi mặt, từ tổ chức bộ máy, nâng cao tính chủ động của chính quyền cơ sở… đến rút ngắn quy trình giải quyết công việc và tăng cường tính linh hoạt trong quản trị địa phương. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện cũng cho thấy còn những điểm nghẽn cả về thể chế, tổ chức bộ máy, nguồn nhân lực, cơ chế phối hợp và phương thức vận hành cần được nhận diện đầy đủ để có giải pháp đồng bộ nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, qua đó, tiếp tục tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên mới.

Một số điểm nghẽn trong triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

 

Chính quyền địa phương 2 cấp là mô hình tổ chức chính quyền theo hướng tinh gọn đầu mối trung gian, tăng cường phân quyền, phân cấp, đề cao tính tự chủ và trách nhiệm của chính quyền cơ sở. Việc xây dựng mô hình này không đơn thuần là sắp xếp lại cơ cấu hành chính, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị công, đòi hỏi sự thay đổi đồng bộ về thể chế, nhân lực, tài chính công, công nghệ quản lý và văn hóa hành chính. Thông tin, số liệu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp do Bộ Chính trị tổ chức ngày 01/7/2026 cho thấy bên cạnh những kết quả tích cực là chủ yếu và rất quan trọng thì cũng còn một số điểm nghẽn, cả về thể chế, tổ chức thực hiện và nguồn lực cần được khắc phục.

 

Về nhận thức và tư duy quản trị

 

Một trong những rào cản lớn nhất trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không nằm ở tổ chức bộ máy hay nguồn lực thực thi, mà sâu xa hơn là vấn đề nhận thức và tư duy quản trị. Trên thực tế, ở không ít địa phương, việc triển khai mô hình mới vẫn chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ “sắp xếp hành chính”, “tinh giản đầu mối” hoặc “cắt giảm biên chế”, thay vì được tiếp cận như một quá trình cải cách nền quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, tinh gọn và phục vụ. Điều này dẫn tới tình trạng cải cách về hình thức nhưng chưa tạo ra chuyển biến thực chất trong phương thức vận hành bộ máy. Nhiều nơi, bộ máy có thể đã được sắp xếp lại nhưng cách điều hành, quy trình xử lý công việc và văn hóa công vụ vẫn mang nặng dấu ấn của mô hình quản lý hành chính truyền thống, thiếu tính chủ động và chưa lấy người dân làm trung tâm phục vụ.

 

Trong bối cảnh đẩy mạnh tinh giản biên chế và siết chặt kỷ luật công vụ, nhiều cán bộ, công chức có tâm lý sợ sai, sợ trách nhiệm, không dám tham mưu, không dám quyết định, làm việc cầm chừng để “an toàn”. Đây là biểu hiện đáng lo ngại bởi nó làm giảm động lực đổi mới sáng tạo trong quản trị địa phương. Đặc biệt, tư duy “quản lý” chưa chuyển mạnh sang tư duy “phục vụ” vẫn là điểm nghẽn lớn. Trong khi quản trị hiện đại yêu cầu chính quyền phải đóng vai trò kiến tạo phát triển, đồng hành cùng người dân và doanh nghiệp thì ở một số nơi vẫn tồn tại phong cách hành chính quan liêu, áp đặt hoặc nặng tính thủ tục. Tình trạng né tránh trách nhiệm, đùn đẩy công việc giữa các cơ quan, đơn vị vẫn diễn ra khá phổ biến. Khi phát sinh vấn đề khó khăn, vướng mắc chưa đến mức rất phức tạp, nhạy cảm, thay vì chủ động xử lý theo thẩm quyền thì nhiều cán bộ lại lựa chọn phương án “xin ý kiến cấp trên”, “chờ hướng dẫn”, làm mất đi ý nghĩa cốt lõi của phân cấp, phân quyền.

 

Biểu hiện khác của hạn chế tư duy quản trị là tâm lý “xin - cho” vẫn tồn tại ở nhiều địa phương. Một số chính quyền cơ sở chưa thực sự phát huy tính tự chủ, sáng tạo mà vẫn phụ thuộc lớn vào cấp trên cả trong tư duy điều hành và xử lý công việc cụ thể. Điều này khiến mô hình chính quyền địa phương 02 cấp chưa phát huy hết hiệu quả, đồng thời làm giảm tốc độ phản ứng chính sách trước các vấn đề phát sinh từ thực tiễn. Nếu không đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị thì việc cải cách tổ chức bộ máy sẽ khó tạo ra chuyển biến thực chất. Bởi xét đến cùng, chất lượng quản trị không chỉ phụ thuộc vào cấu trúc bộ máy mà phụ thuộc trước hết vào tư duy, năng lực và văn hóa hành chính của đội ngũ thực thi công vụ.

 

Về thể chế và phân cấp, phân quyền

 

Mặc dù chủ trương đẩy mạnh phân cấp, phân quyền đã được xác định là khâu đột phá trong đổi mới quản trị quốc gia, song thực tiễn triển khai cho thấy hệ thống thể chế vẫn chưa theo kịp yêu cầu của mô hình chính quyền mới. Một trong những bất cập lớn là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực này còn thiếu tính đồng bộ, thống nhất và ổn định. Một số quy định liên quan đến tổ chức chính quyền địa phương, quản lý đầu tư công, quản lý ngân sách, quản lý đất đai, xây dựng, tài nguyên môi trường… còn chồng chéo hoặc chưa phân định rõ thẩm quyền giữa các cấp chính quyền.

 

Trên thực tế vẫn tồn tại tình trạng phân cấp nhiệm vụ nhưng chưa phân đủ thực quyền, giao trách nhiệm nhưng chưa giao đủ nguồn lực, trao thẩm quyền nhưng cơ chế thực hiện còn bị ràng buộc bởi nhiều tầng kiểm soát trung gian khiến chính quyền địa phương khó chủ động giải quyết công việc và vẫn phụ thuộc nhiều vào cơ quan cấp trên. Một số địa phương phản ánh mặc dù được giao trách nhiệm quản lý nhưng khi triển khai các dự án đầu tư, quy hoạch, tài chính hoặc xử lý các vấn đề phát sinh vẫn phải xin ý kiến qua nhiều cấp, nhiều ngành. Điều này không chỉ kéo dài thời gian xử lý công việc mà còn làm phát sinh tâm lý né tránh trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ, thậm chí dễ dẫn tới nguy cơ phát sinh cục bộ địa phương, lợi ích nhóm hoặc lạm quyền.

 

Nhiều quy định pháp luật hiện vẫn mang nặng tư duy quản lý theo chiều dọc, chưa phù hợp với yêu cầu quản trị linh hoạt, đa ngành và dựa trên dữ liệu của chính quyền hiện đại. Điều này làm cho chính quyền địa phương gặp khó khăn trong việc thích ứng nhanh với các vấn đề phát sinh từ thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội. Nếu không tiếp tục hoàn thiện thể chế theo hướng đồng bộ, rõ trách nhiệm, rõ thẩm quyền và tăng tính tự chủ cho địa phương, thì mô hình chính quyền địa phương 02 cấp sẽ khó vận hành hiệu quả và khó tạo ra đột phá về quản trị.

 

Về tổ chức bộ máy và chất lượng đội ngũ cán bộ

 

Tinh gọn tổ chức bộ máy là chủ trương đúng đắn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai ở một số địa phương, việc sắp xếp tổ chức bộ máy còn mang tính cơ học, thiên về giảm đầu mối mà chưa gắn chặt với tái cấu trúc chức năng, nhiệm vụ và quy trình quản trị. Có địa phương còn chưa xây dựng được cơ chế phối hợp và vận hành mới tương ứng. Điều này dẫn tới tình trạng bộ máy giảm đầu mối nhưng công việc không giảm, một số vị trí bị quá tải, quy trình xử lý bị gián đoạn, hiệu quả phối hợp chưa cao.

 

Ở cấp cơ sở - nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân - áp lực công việc ngày càng lớn trong khi biên chế có xu hướng tinh giản. Cán bộ cấp xã phải kiêm nhiệm nhiều lĩnh vực khác nhau, từ hành chính, đất đai, an sinh xã hội đến chuyển đổi số, nhưng chưa được đào tạo đầy đủ về kỹ năng quản trị hiện đại. Đặc biệt, tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, chất lượng đội ngũ cán bộ còn chưa đồng đều, hạn chế về kỹ năng số, kỹ năng quản trị công hiện đại, năng lực tham mưu chính sách, kỹ năng truyền thông và dân vận trong môi trường số. Trong khi đó, yêu cầu quản trị ngày càng cao, đòi hỏi cán bộ không chỉ giỏi chuyên môn mà còn phải có tư duy đổi mới, khả năng thích ứng và năng lực xử lý tình huống phức tạp (số liệu tại Hội nghị toàn quốc sơ kết 01 năm vận hành mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị và mô hình chính quyền 3 cấp do Bộ Chính trị tổ chức ngày 01/7/2026 cho biết, chỉ có 53% cán bộ cấp tỉnh và 30% cán bộ cấp xã đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ). Thêm nữa, áp lực công việc ngày càng tăng nhưng chế độ đãi ngộ, điều kiện làm việc và cơ hội phát triển nghề nghiệp ở cơ sở còn hạn chế, đặc biệt đối với cán bộ trẻ, cán bộ có trình độ cao. Nếu không có chính sách phù hợp sẽ khó thu hút và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao cho khu vực công.

 

Về chuyển đổi số và hạ tầng quản trị

 

Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp chỉ có thể vận hành hiệu quả khi được đặt trên nền tảng quản trị số và dữ liệu số hiện đại. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chuyển đổi số ở nhiều địa phương vẫn là khâu yếu và chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới quản trị. Trước hết, hạ tầng công nghệ thông tin còn thiếu đồng bộ giữa các địa phương và giữa các cấp chính quyền. Có nơi đã đầu tư tương đối hiện đại nhưng cũng có nơi hạ tầng mạng, trang thiết bị và nền tảng dữ liệu còn rất hạn chế, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa. Tiếp đó, tình trạng “cát cứ dữ liệu” vẫn tồn tại khá phổ biến. Các cơ quan, ngành, lĩnh vực xây dựng cơ sở dữ liệu riêng nhưng thiếu kết nối, liên thông và chia sẻ dữ liệu. Một số địa phương triển khai chuyển đổi số chưa thực sự hiệu quả. Đặc biệt, năng lực số của cán bộ cơ sở còn hạn chế làm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Nếu không giải quyết tốt bài toán chuyển đổi số thì mô hình chính quyền địa phương 02 cấp sẽ khó đạt được mục tiêu tinh gọn, minh bạch và vận hành hiệu quả trong bối cảnh quản trị hiện đại.

 

Về cơ chế giám sát và kiểm soát quyền lực

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Huế Nguyễn Khắc Toàn kiểm tra tiến độ xây dựng Trường Phổ thông nội trú liên cấp tiểu học và trung học cơ sở tại các xã biên giới A Lưới 4.
 

Một nguyên tắc quan trọng trong quản trị hiện đại là phân quyền càng mạnh thì cơ chế kiểm soát quyền lực càng phải chặt chẽ. Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp hiện nay, cơ chế giám sát ở một số nơi vẫn chưa theo kịp yêu cầu mới. Vai trò giám sát của HĐND tại một số địa phương còn mờ nhạt, chưa phát huy đầy đủ chức năng kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước. Hoạt động chất vấn, giám sát chuyên đề ở nhiều nơi còn hình thức, chưa đi sâu vào các vấn đề bức xúc của thực tiễn quản trị địa phương. Trong khi đó, vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội chưa thật sự mạnh. Cơ chế để người dân tham gia giám sát hoạt động công quyền còn hạn chế, nhất là trong các lĩnh vực nhạy cảm như đầu tư công, đất đai, quy hoạch, ngân sách, quản lý tài sản công. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số, cơ chế công khai minh bạch dữ liệu quản trị công ở nhiều địa phương còn chưa đầy đủ. Người dân khó tiếp cận thông tin về ngân sách, quy hoạch hoặc tiến độ giải quyết công việc hành chính.

 

Về sự đồng thuận xã hội

 

Mọi cuộc cải cách muốn thành công đều phải dựa trên nền tảng đồng thuận xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp thời gian qua, việc tạo dựng sự đồng thuận ở một số nơi vẫn còn hạn chế. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy, thay đổi địa giới hành chính hoặc điều chỉnh mô hình quản lý có tác động trực tiếp đến tâm lý, lợi ích và thói quen sinh hoạt của người dân. Ở một số địa phương, công tác truyền thông chính sách còn mang tính hành chính, một chiều, chưa giải thích rõ mục tiêu, lợi ích và tác động của cải cách đối với người dân. Điều này làm cho người dân chưa thực sự hiểu, chưa tích cực tham gia hoặc chưa đồng thuận cao với quá trình triển khai. Trong khi đó, các thế lực thù địch thường xuyên lợi dụng mạng xã hội để phát tán thông tin sai lệch, bóp méo chủ trương cải cách, kích động tâm lý bất mãn và tạo hiệu ứng tiêu cực trong dư luận xã hội. Xây dựng đồng thuận xã hội không chỉ là nhiệm vụ truyền thông mà còn là yêu cầu chính trị quan trọng, quyết định tính bền vững của quá trình cải cách chính quyền địa phương hiện nay.

 

 

Một số giải pháp tháo gỡ điểm nghẽn trong triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp

Tiếp tục hoàn thiện thể chế

Thanh niên tình nguyện hỗ trợ người dân tra cứu thông tin tại Điểm phục vụ hành chính công phường Đống Đa, Hà Nội.

Hoàn thiện thể chế là yêu cầu mang tính nền tảng để xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp vận hành hiệu lực, hiệu quả và bền vững. Thực tiễn cho thấy, nhiều điểm nghẽn không hoàn toàn xuất phát từ yếu tố con người mà bắt nguồn từ sự thiếu đồng bộ, chồng chéo hoặc chưa theo kịp thực tiễn của hệ thống pháp luật và cơ chế quản trị. Cần tiếp tục rà soát toàn diện các văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương nhằm bảo đảm tính thống nhất giữa Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương, Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Đất đai và các văn bản dưới luật. Hoàn thiện thể chế theo hướng việc thực hiện phân cấp, phân quyền thực chất hơn, bảo đảm nguyên tắc cấp nào gần dân, sát dân hơn thì giao nhiều quyền hơn; cấp nào được giao quyền thì phải có đủ nguồn lực và cơ chế chịu trách nhiệm; quyền hạn phải đi đôi với trách nhiệm giải trình và kiểm soát quyền lực.

 

Trong bối cảnh chuyển đổi số và yêu cầu quản trị hiện đại, cần chuyển mạnh từ mô hình “xin - cho” sang mô hình “ủy quyền - chịu trách nhiệm”, đây là thay đổi có ý nghĩa chiến lược trong tư duy thể chế. Bên cạnh đó, cần khắc phục triệt để tình trạng chồng chéo chức năng giữa các cơ quan hành chính nhà nước. Thực tế hiện nay, nhiều lĩnh vực như đất đai, đầu tư công, xây dựng, môi trường, chuyển đổi số… trách nhiệm giữa các cơ quan còn giao thoa, dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm, né tránh xử lý, quy trình giải quyết kéo dài, phát sinh thủ tục trung gian không cần thiết. Điều này không chỉ làm giảm hiệu quả quản trị mà còn tạo môi trường dễ phát sinh tiêu cực, nhũng nhiễu và lợi ích nhóm. Do vậy, cần tiếp tục tái cấu trúc quy trình quản trị theo hướng rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn, rõ kết quả đầu ra. Tăng cường cơ chế kiểm soát quyền lực trong điều kiện đẩy mạnh phân quyền. Phân quyền mạnh nhưng thiếu giám sát hiệu quả có thể dẫn tới lạm quyền, cục bộ địa phương hoặc lợi ích nhóm. Vì vậy, phải hoàn thiện cơ chế kiểm tra, thanh tra, giám sát và đánh giá công vụ bằng công nghệ số, dữ liệu số và các chỉ số hiệu quả quản trị.

 

Đổi mới mạnh mẽ tư duy quản trị quốc gia và quản trị địa phương

 

Một trong những rào cản lớn nhất đối với quá trình xây dựng chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay không chỉ nằm ở tổ chức bộ máy, mà sâu xa hơn là ở tư duy quản trị. Trong nhiều trường hợp, bộ máy có thể đã thay đổi nhưng tư duy quản lý vẫn mang nặng dấu ấn hành chính bao cấp, mệnh lệnh và kiểm soát theo chiều dọc. Do đó, muốn cải cách thành công thì trước hết phải đổi mới tư duy quản trị quốc gia và quản trị địa phương. Trọng tâm của sự đổi mới này là chuyển từ tư duy “quản lý hành chính” sang tư duy “quản trị phục vụ và kiến tạo phát triển”. Nếu như mô hình quản lý truyền thống chủ yếu nhấn mạnh quyền lực hành chính và cơ chế kiểm soát thì quản trị hiện đại đặt người dân và doanh nghiệp vào vị trí trung tâm của hệ thống phục vụ công. Điều đó có nghĩa, chính quyền không chỉ “quản lý dân” mà phải phục vụ người dân; không chỉ ban hành mệnh lệnh hành chính mà phải tạo lập môi trường phát triển; không chỉ kiểm soát mà còn phải đồng hành, hỗ trợ và kiến tạo. Đây là thay đổi rất lớn về tư duy chính trị và hành chính.

Trong bối cảnh hiện nay, năng lực cạnh tranh của địa phương không chỉ dựa vào tài nguyên thiên nhiên hay vị trí địa lý mà phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng quản trị địa phương. Một chính quyền minh bạch, nhanh nhạy, trách nhiệm và thân thiện sẽ tạo lợi thế lớn trong thu hút đầu tư, phát triển kinh tế và củng cố niềm tin xã hội. Vì vậy, cần xây dựng mô hình chính quyền địa phương theo hướng chuyên nghiệp, minh bạch, dữ liệu hóa, số hóa, hành động nhanh, phục vụ hiệu quả. Đồng thời, phải xóa bỏ tư duy “an toàn”, “né tránh trách nhiệm” trong một bộ phận cán bộ hiện nay. Thực tế cho thấy, sau quá trình siết chặt kỷ luật, kỷ cương và phòng, chống tham nhũng, ở một số nơi vẫn duy trì tâm lý sợ sai, không dám quyết, không dám làm. Điều này kéo dài sẽ làm suy giảm động lực phát triển và ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả quản trị. Do đó, cùng với kiểm soát quyền lực, cần xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới vì lợi ích chung. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành đội ngũ lãnh đạo địa phương năng động, sáng tạo và có tư duy phát triển.

 

Đổi mới tư duy quản trị quốc gia còn là quá trình chuyển từ “nhà nước quản lý” sang “nhà nước kiến tạo phát triển”. Nhà nước không làm thay xã hội nhưng phải tạo ra môi trường thể chế thuận lợi để mọi nguồn lực xã hội được phát huy tối đa cho phát triển đất nước. Trong điều kiện hiện nay, xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp không đơn thuần là giảm đầu mối tổ chức mà là bước chuyển quan trọng trong tư duy quản trị quốc gia hiện đại, hướng tới một nền hành chính tinh gọn, số hóa, hiệu quả và phục vụ nhân dân tốt hơn.

 

Xây dựng chính quyền địa phương 2 cấp là bước đi quan trọng trong tiến trình đổi mới hệ thống chính trị, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN và hiện đại hóa nền quản trị quốc gia ở Việt Nam hiện nay. Đây không đơn thuần là sự điều chỉnh về cơ cấu tổ chức hành chính, mà là quá trình tái cấu trúc toàn diện phương thức quản trị công theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, gần dân, sát dân và phục vụ nhân dân tốt hơn. Cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, đổi mới tư duy quản trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và đẩy mạnh chuyển đổi số. Với quyết tâm chính trị cao của Đảng, sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị và sự đồng thuận của nhân dân, quá trình vận hành chính quyền địa phương 2 cấp ở Việt Nam sẽ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, hiệu lực, hiệu quả, góp phần xây dựng nền quản trị quốc gia tiên tiến, phát triển đất nước nhanh và bền vững trong giai đoạn mới.