Giá trị lịch sử và bài học kinh nghiệm trong Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 - cơ sở xây dựng nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, liêm chính hiện nay
Dưới sự lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sự nghiệp giải phóng dân tộc thành công (Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9), nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, trở thành một nước độc lập, tự do. Nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người chủ đất nước, làm chủ xã hội, làm chủ vận mệnh của mình. Trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, ngay từ khi ra đời, Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã mang bản chất của chính phủ của dân, do dân, vì dân.
Tinh thần xây dựng Chính phủ liêm chính, phục vụ và hành động là nhất quán, xuyên suốt trong sự nghiệp cách mạng của Đảng từ khi thành lập nước cho đến nay. Tư tưởng Hồ Chí Minh và những giá trị, bài học kinh nghiệm của Đảng trong Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 2/9 và sự ra đời của Nhà nước mới luôn được Đảng ta kế thừa, phát huy qua các thời kỳ lịch sử, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay để xây dựng chính phủ liêm chính, nền công vụ chuyên nghiệp, phục vụ và hành động nhằm đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong bối cảnh mới. Những giá trị, bài học cốt lõi đó là:
Thứ nhất, khẳng định vai trò tối thượng của Hiến pháp trong xây dựng Nhà nước và bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân.
Bác Hồ thăm Nhà máy xe lửa Gia Lâm, Hà Nội, ngày 19/5/1955.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhà nước và Chính phủ phải thể hiện ý chí quyền lực của dân, mưu cầu hạnh phúc cho Nhân dân, phấn đấu đem lại quyền lợi, lợi ích, nhu cầu hợp lý, chính đáng cho các tầng lớp Nhân dân. Trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ (ngày 03/9/1945), Người xác định một trong những vấn đề cấp bách là “Chúng ta phải có một hiến pháp dân chủ. Tôi đề nghị Chính phủ tổ chức càng sớm càng hay cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu” (Hồ Chí Minh, tập 4, 2011, tr.7). Theo Người, nhà nước pháp quyền thực sự là của dân, do dân, vì dân thì trước hết bộ máy nhà nước phải phục vụ quyền lợi và lợi ích chính đáng của Nhân dân, theo đó, hiến pháp dân chủ phải do cơ quan đại diện của Nhân dân lập ra và do Nhân dân phúc quyết. Vì vậy, Người yêu cầu nhanh chóng tổ chức Tổng tuyển cử theo chế độ phổ thông đầu phiếu để toàn dân được bầu ra cơ quan đại diện của mình, bởi “Sau Tổng tuyển cử toàn quốc, những người trúng cử sẽ triệu tập Quốc hội... Quốc hội sẽ bầu ra một Chính phủ chính thức và quyết định các vấn đề như Quốc kỳ, Quốc huy... (Hồ Chí Minh, tập 4, 2011, tr.139).
Ngày 09/11/1946, Quốc hội khóa I, Kỳ họp thứ hai đã thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hiến pháp năm 1946 có giá trị cốt yếu trong xây dựng một xã hội Việt Nam được điều hành, quản lý bằng pháp luật, quy định các quyền nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội cơ bản rõ ràng, minh bạch, hợp lý, đồng thời đặt ra những nguyên tắc trong việc tổ chức bộ máy nhà nước; khẳng định, xác lập cơ sở chính trị - pháp lý của một nhà nước độc lập, tạo nền tảng quan trọng trong xây dựng các đạo luật nhằm cụ thể hóa quy định của hiến pháp. Trên cơ sở đó, Quốc hội thảo luận và ban hành một số đạo luật quan trọng để chính quyền các cấp ở địa phương tiến hành tổ chức bộ máy và chăm lo cho đời sống Nhân dân.
Trong quá trình xây dựng Chính phủ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: phải xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình thông qua nhà nước dân chủ và các đoàn thể do chính họ lập ra và quản lý. Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm, thực tiễn lãnh đạo xây dựng và phát triển đất nước của Đảng Cộng sản Việt Nam phải đề cao thượng tôn Hiến pháp, pháp luật trong xây dựng Nhà nước ở Việt Nam, đó là bản chất của chế độ ta, là Nhà nước thể hiện quan niệm hoàn chỉnh về nguyên tắc quản lý xã hội theo pháp luật trong Nhà nước dân chủ theo tinh thần pháp quyền. Nhà nước kiểu mới là nhà nước dân chủ, của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước mà Nhân dân lao động được thực sự làm chủ - Nhân dân là chủ thể cao nhất và duy nhất của quyền lực chính trị, quyền lực nhà nước. Chính phủ là công cụ phục vụ Nhân dân, đây là những nội dung thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội mới ở Việt Nam. Các quan điểm này có ý nghĩa là cơ sở lý luận, thực tiễn sâu sắc đối với nhiệm vụ xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân.
Thứ hai, xây dựng Chính phủ liêm chính, phục vụ và hành động, đồng thời là Chính phủ đoàn kết, lấy dân làm gốc.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, “liêm” nghĩa là trong sạch, không tham lam, không vụ lợi, không tham ô, không nhận hối lộ. Người viết: “Liêm là không tham địa vị. Không tham tiền tài. Không tham sung sướng. Không ham người tâng bốc mình” (Hồ Chí Minh, tập 5, 2021, tr.292). “Liêm” không chỉ là phẩm chất cá nhân, mà còn là chuẩn mực đạo đức xã hội, là nguyên tắc trong hành xử với Nhân dân, với Đảng, với Nhà nước. Cán bộ liêm khiết là người biết đặt lợi ích của tập thể, của Nhân dân lên trên lợi ích riêng: “Chính là không tà, nghĩa là việc gì cũng thẳng thắn, đứng đắn, không quanh co, không hai lòng”. “Chính” thể hiện sự kiên định trong tư tưởng và hành động, là sự trong sáng của tâm hồn và bản lĩnh chính trị. Cán bộ có “chính” là người trung thành với lý tưởng cách mạng, có lập trường rõ ràng, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm.
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám và trong những ngày đầu xây dựng Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, những người làm việc trong công sở phải lấy chữ Liêm làm đầu, phải đặt Liêm lên hàng đầu mới kiến tạo được Chính phủ Liêm Chính. Bởi “thượng bất chính, hạ tắc loạn” - nếu những người đứng đầu không chính thì dưới sẽ “quân hồi vô phèng”. Để thực hiện Liêm, cần phải có tuyên truyền, kiểm soát, từ trên xuống, từ dưới lên trên, nghĩa là cán bộ phải gương mẫu thực hành liêm khiết trong cuộc sống, trong thi hành công vụ. Nhân dân phải kiểm soát cán bộ, giúp cán bộ thực hiện Liêm, không phân biệt người có chức tước, địa vị to hay nhỏ. Trong mỗi người, cần, kiệm, liêm chưa đủ mà cần có chính mới hoàn thiện. Cần, Kiệm, Liêm là gốc rễ của Chính, “Chính nghĩa là không tà, nghĩa là thẳng thắn, đứng đắn. Điều gì không đứng đắn, thẳng thắn, tức là tà (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.129).
Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng chỉ rõ: muốn xây dựng Chính phủ liêm chính thì phải thực hiện đồng thời cả xây và chống. Theo Người, cấp cao thì quyền to, cấp thấp thì quyền nhỏ. Dù to hay nhỏ, có quyền mà thiếu lương tâm, hễ có dịp là đục khoét, ăn của đút lót, “dĩ công vi tư”. Vì vậy, bên cạnh pháp luật còn phải thực hiện nghiêm các biện pháp lựa chọn cán bộ liêm chính, giáo dục bồi dưỡng nâng cao nhận thức để cán bộ tự rèn luyện, cần phải tăng cường các biện pháp thanh, kiểm tra, xử lý kỷ luật, phòng chống tham nhũng là những việc gốc cần làm để xây dựng Chính phủ liêm chính. Và, để được lòng dân thì Chính phủ phải thật sự công bộc theo nghĩa là hết lòng, hết sức phục vụ Nhân dân, “việc gì có lợi cho dân phải thì hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh” (Hồ Chí Minh, tập 4, 2011, tr.51).
Tư tưởng Hồ Chí Minh về “Liêm”, “Chính” trong thành lập và xây dựng Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa không chỉ mang ý nghĩa lịch sử mà còn có giá trị thời đại sâu sắc, là cơ sở đạo đức cho quản trị công hiện đại, hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền, liêm chính, hiệu quả; là điểm tựa tinh thần trong xây dựng văn hóa Đảng, chống suy thoái tư tưởng, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; là nguồn lực nội sinh quan trọng trong phát triển bền vững, củng cố niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước ta. Trong thời kỳ chuyển đổi số, khi quyền lực và thông tin trở nên phức tạp, “Liêm” và “Chính” cần được số hóa thành văn hóa tổ chức minh bạch, trách nhiệm giải trình, công khai dữ liệu, phù hợp với mô hình quản trị hiện đại.
Thứ ba, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức, tinh thần phụng sự và năng lực thực thi công vụ.
Sau thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, chính quyền nhà nước mới được xây dựng ở nước ta đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn tuân thủ theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, đó là: giai cấp công nhân khi trở thành giai cấp cầm quyền phải có phẩm chất đạo đức đúng đắn, trong sáng. Nếu giai cấp lãnh đạo đánh mất phẩm chất đạo đức, trở nên tham lam, biến chất thì bản thân tính hợp pháp, tính chính danh của tổ chức bị suy yếu.
Trong quá trình xây dựng bộ máy nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh và coi “Cần, Kiệm, Liêm, Chính” là chuẩn mực đạo đức cốt lõi của người cán bộ cách mạng. Người không chỉ xem đó là phẩm chất cá nhân, mà là chuẩn mực đạo đức của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, là tiêu chí để Nhân dân kiểm soát cán bộ; là thước đo đảm bảo sự liêm chính trong hoạt động của bộ máy nhà nước và đảm bảo tính ưu việt của nhà nước của dân, do dân, vì dân.
Quan điểm và bài học lãnh đạo của Đảng từ năm 1945 đến nay về xây dựng văn hóa liêm chính còn xuất phát từ yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong Văn kiện các kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó có nền tảng đạo đức là lối sống lành mạnh, liêm chính, chí công, vô tư. Từ kinh nghiệm của việc lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công thành lập Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Đảng ta xác định văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, và văn hóa liêm chính là một thành tố quan trọng của văn hóa công vụ, là chuẩn mực đạo đức của cán bộ, đảng viên. Những bài học này sẽ tiếp tục định hướng cho cải cách thể chế, hoàn thiện pháp luật, và đổi mới quản trị công, xây dựng nền công vụ liêm chính ở Việt Nam trong bối cảnh mới hiện nay.
Tòa nhà Quốc Hội.