← E-Magazine

E-MAGAZINE · VINH QUANG VIỆT NAM

22/10/2026 1 phút đọc

Phát triển công nghiệp ở Việt Nam góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng để quá trình này thực sự bền vững thì cần bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đối với người lao động. Trong bối cảnh hiện nay, cần chuyển từ tư duy coi người lao động chủ yếu là nguồn lực sản xuất sang cách tiếp cận đặt người lao động vào vị trí trung tâm của chính sách phát triển công nghiệp. Bài viết nghiên cứu thực tế và đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện chính sách lao động, tiền lương, an sinh xã hội, nhà ở công nhân, đào tạo kỹ năng và cơ chế phối hợp các chủ thể, nhằm bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng công nghiệp, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm, động viên công nhân, người lao động tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27/4/2026. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thăm, động viên công nhân, người lao động tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 27/4/2026.

Đặt vấn đề

Công nghiệp là động lực quan trọng của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thông qua quá trình mở rộng sản xuất, phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, năng lượng, logistics và các dịch vụ gắn với sản xuất công nghiệp, quá trình này góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và hình thành các không gian phát triển mới như khu công nghiệp, khu kinh tế, cụm công nghiệp và vùng công nghiệp. Vì vậy, phát triển công nghiệp không chỉ có ý nghĩa kinh tế, mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc, bởi người lao động là lực lượng trực tiếp tham gia và thụ hưởng thành quả của quá trình phát triển đó.

Quan điểm của Đảng và pháp luật của Nhà nước về bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đối với người lao động trong phát triển công nghiệp

Bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đối với người lao động trong phát triển công nghiệp có cơ sở chính trị và pháp lý rõ ràng trong đường lối của Đảng và hệ thống pháp luật của Nhà nước ta. Đây không chỉ là vấn đề phúc lợi xã hội sau tăng trưởng, mà là yêu cầu nội tại của phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp và nâng cao năng suất phải gắn với bảo vệ quyền lợi, cải thiện đời sống và mở rộng cơ hội phát triển của người lao động.

Quan điểm của Đảng về phát triển con người, tiến bộ và công bằng xã hội là nền tảng quan trọng để xác lập vị trí trung tâm của người lao động trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bổ sung, phát triển năm 2011 đã “xác định mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu “xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Quan điểm này cho thấy, người lao động không chỉ là yếu tố đầu vào của sản xuất, mà là chủ thể xã hội của quá trình công nghiệp hóa. 

Quan điểm này tiếp tục được cụ thể hóa trong Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát triển hệ thống chính sách xã hội toàn diện, bao trùm, bền vững, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao đời sống Nhân dân (Ban Chấp hành Trung ương, 2023). Chính sách lao động, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, nhà ở, đào tạo nghề, an toàn lao động và dịch vụ xã hội cơ bản phải được coi là bộ phận cấu thành của chính sách phát triển công nghiệp bền vững, không phải là các chính sách hỗ trợ rời rạc.

Trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, yêu cầu bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội tiếp tục được đặt trong tổng thể mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đất nước. Đây là định hướng quan trọng đối với phát triển công nghiệp, bởi chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tự động hóa và tái cấu trúc chuỗi cung ứng vừa tạo thêm cơ hội việc làm, vừa có thể làm gia tăng rủi ro mất việc, suy giảm kỹ năng, bất bình đẳng thu nhập và thiếu hụt an sinh đối với một bộ phận người lao động.

Vì vậy, có thể xác định một nguyên tắc chính sách cơ bản: phát triển công nghiệp bền vững phải đặt người lao động vào trung tâm của quá trình phát triển. Công nghiệp hóa không chỉ nhằm mở rộng quy mô sản xuất, gia tăng giá trị xuất khẩu hay thu hút đầu tư, mà còn phải tạo ra việc làm bền vững, nâng cao thu nhập, bảo đảm an sinh xã hội, cải thiện điều kiện lao động, mở rộng khả năng tiếp cận nhà ở, dịch vụ công và cơ hội nâng cao kỹ năng cho người lao động. Nếu tăng trưởng công nghiệp không đi kèm với cải thiện đời sống và năng lực phát triển của người lao động thì sự phát triển đó chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu tiến bộ và công bằng xã hội.

Về phương diện pháp lý, Điều 3 Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân” (Quốc hội, 2013). Bộ luật Lao động năm 2019 đã quy định những vấn đề cốt lõi về hợp đồng lao động, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi, đối thoại tại nơi làm việc, thương lượng tập thể và quan hệ lao động. Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015, Luật Nhà ở năm 2023, Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, Luật Công đoàn năm 2024 và Luật Việc làm năm 2025, cùng với Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ về đầu tư xây dựng ít nhất một triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp và công nhân khu công nghiệp giai đoạn 2021 - 2030, Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 27/02/2025 của Thủ tướng Chính phủ về giao chỉ tiêu hoàn thành nhà ở xã hội trong năm 2025 và các năm tiếp theo đến năm 2030 và Nghị quyết số 201/2025/QH15 của Quốc hội về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển nhà ở xã hội đã tạo lập khung chính sách quan trọng về việc làm, an sinh xã hội, an toàn lao động, nhà ở và đào tạo kỹ năng, qua đó góp phần nâng cao chất lượng việc làm, cải thiện điều kiện sống, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quá trình phát triển công nghiệp.

Một số vấn đề đặt ra đối với người lao động trong phát triển công nghiệp ở Việt Nam

Phát triển công nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây tiếp tục góp phần tạo việc làm, nâng cao thu nhập và thúc đẩy chuyển dịch lao động sang các ngành, lĩnh vực có năng suất cao hơn. Tuy nhiên, xét từ yêu cầu bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, vấn đề không chỉ là số lượng việc làm, mà còn là chất lượng việc làm, trình độ kỹ năng, thu nhập, an sinh xã hội, điều kiện lao động, nhà ở và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội của người lao động trong phát triển công nghiệp. Điều đó được thể hiện rõ ở các vấn đề sau:

Một là, việc làm trong công nghiệp và yêu cầu nâng cao chất lượng lao động. Số liệu của Cục Thống kê cho thấy, lao động có việc làm trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng từ 11,3022 triệu người năm 2020 lên 12,2232 triệu người năm 2024, tương ứng tăng khoảng 8,1%. Mức tăng này cho thấy công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong hấp thụ lao động và chuyển dịch cơ cấu việc làm. Tuy nhiên, chất lượng lao động chưa theo kịp yêu cầu phát triển công nghiệp hiện đại. Tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo của toàn nền kinh tế tăng từ 23,6% năm 2020 lên 28,4% năm 2024 nhưng trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ tăng từ 17,9% lên 23,1%, thấp hơn mức bình quân chung (Cục Thống kê, 2025). Đây là điểm đáng chú ý vì chế biến, chế tạo là khu vực sử dụng nhiều lao động, đồng thời chịu tác động trực tiếp của tự động hóa, chuyển đổi số, tiêu chuẩn xanh và tái cấu trúc chuỗi cung ứng. Năm 2024, tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo trong ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 80,0%; ngành khai khoáng đạt 64,3%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 48,9%; trong khi công nghiệp chế biến, chế tạo chỉ đạt 23,1% (Cục Thống kê, 2025). Nhóm ngành tạo nhiều việc làm nhất lại có tỷ lệ lao động có việc làm đã qua đào tạo thấp.

Từ góc độ bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nếu người lao động không được đào tạo lại và nâng cao kỹ năng, họ có nguy cơ bị mắc kẹt trong các vị trí việc làm giản đơn, thu nhập thấp và dễ bị thay thế khi công nghệ thay đổi bởi “phần lớn người lao động thất nghiệp trước đó làm việc trong lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo, chiếm 39,8%” (Hồng Phượng, 2026). Điều này phản ánh rõ hơn sức ép của chuyển đổi công nghệ, tự động hóa và tái cấu trúc sản xuất đối với nhóm lao động kỹ năng thấp. 

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang thăm hỏi và chúc mừng tập thể người lao động PV GAS, ngày 29/10/2023. Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Lưu Quang thăm hỏi và chúc mừng tập thể người lao động PV GAS, ngày 29/10/2023.

Dây chuyền may của Xí nghiệp May Khatoco.

Dây chuyền may của Xí nghiệp May Khatoco.

Hai là, thu nhập của người lao động và yêu cầu nâng cao mức thụ hưởng từ phát triển công nghiệp. Tính đến năm 2024, thu nhập bình quân một lao động đang làm việc của toàn nền kinh tế tăng từ 5,6252 triệu đồng/tháng năm 2020 lên 7,7134 triệu đồng/tháng. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, thu nhập bình quân tăng từ 6,6582 triệu đồng/tháng lên 8,4442 triệu đồng/tháng. Một số ngành công nghiệp khác có mức thu nhập cao hơn bình quân chung năm 2024, như khai khoáng đạt 11,240 triệu đồng/tháng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 11,4726 triệu đồng/tháng; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 9,1195 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, mức tăng thu nhập chưa đồng đều giữa các ngành. Giai đoạn 2020 - 2024, thu nhập bình quân chung của nền kinh tế tăng khoảng 41,7%, trong khi thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khoảng 26,8% (Cục Thống kê, 2025). Điều này cho thấy, ngành tạo việc làm lớn nhất trong công nghiệp vẫn cần tiếp tục cải thiện mức thụ hưởng của người lao động tương xứng hơn với vai trò hấp thụ lao động và đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa.

Ba là, an sinh xã hội, an toàn lao động và yêu cầu bảo vệ người lao động trước các rủi ro. An sinh xã hội và an toàn lao động là điều kiện quan trọng để người lao động thụ hưởng ổn định hơn thành quả phát triển công nghiệp. Số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy hệ thống an sinh xã hội đã được mở rộng đáng kể, nhất là bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, độ bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp vẫn cần tiếp tục được mở rộng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ người lao động trong quá trình phát triển công nghiệp.

Năm 2025 có 786.969 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, bằng 96,3% số hồ sơ đề nghị (Hồng Phượng, 2026). Đối với người lao động trong lĩnh vực công nghiệp, khoảng trống an sinh có thể phát sinh ở một số nhóm: lao động làm việc trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, lao động hợp đồng ngắn hạn, lao động thời vụ, lao động di cư, lao động trong các chuỗi cung ứng phụ trợ hoặc lao động bị gián đoạn việc làm do doanh nghiệp thu hẹp đơn hàng, đổi mới công nghệ, chuyển dịch sản xuất. 

An toàn lao động cũng là nội dung không thể tách rời tiến bộ và công bằng xã hội tại nơi làm việc. Năm 2024 cả nước xảy ra 8.286 vụ tai nạn lao động, làm 8.472 người bị nạn, trong đó có 727 người chết và 1.690 người bị thương nặng. Một số lĩnh vực có tỷ trọng tai nạn lao động chết người đáng chú ý gồm khai thác mỏ, khai thác khoáng sản (chiếm 16,3% tổng số vụ tai nạn và 15,17% tổng số người chết); sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm 9,72% tổng số vụ và 11,25% tổng số người chết); cơ khí, luyện kim (chiếm 6,62% tổng số vụ và 6,8% tổng số người chết); dệt may, da giày (3,5% tổng số vụ và 2,62% tổng số người chết), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2025).

Bốn là, nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội và yêu cầu phát triển hạ tầng xã hội tại các khu công nghiệp. Tính từ năm 2021 đến ngày 30/6/2025, cả nước có 692 dự án nhà ở xã hội được triển khai với quy mô 633.559 căn. Trong đó, 146 dự án đã hoàn thành với 102.387 căn; 124 dự án đã khởi công với 112.952 căn; 422 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư với 418.220 căn. Kết quả hoàn thành, khởi công và chấp thuận chủ trương đầu tư đạt 59,6% so với chỉ tiêu của Đề án (Bộ Xây dựng, 2025). Điều này cho thấy chính sách nhà ở xã hội, trong đó có nhà ở cho công nhân đã có chuyển động tích cực, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế tại các vùng công nghiệp. Vấn đề đặt ra là nhà ở công nhân không nên được xem là chính sách phúc lợi bổ sung sau khi khu công nghiệp đã hình thành, mà cần được coi là một bộ phận của hạ tầng xã hội trong phát triển công nghiệp.

 

 

 Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tặng hoa, bằng khen cho công nhân giỏi Thủ đô năm 2026. Lãnh đạo Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam và Liên đoàn Lao động thành phố Hà Nội tặng hoa, bằng khen cho công nhân giỏi Thủ đô năm 2026.

Giải pháp cơ bản bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội đối với người lao động trong phát triển công nghiệp

Thứ nhất, cụ thể hóa quan điểm về tiến bộ, công bằng xã hội trong chính sách phát triển công nghiệp.

Chính sách phát triển công nghiệp cần chuyển từ cách tiếp cận chủ yếu dựa vào tăng trưởng, vốn đầu tư, giá trị sản xuất và xuất khẩu sang cách tiếp cận tích hợp giữa tăng trưởng công nghiệp với chất lượng phát triển xã hội. Khi xây dựng chiến lược, quy hoạch, chương trình và kế hoạch phát triển công nghiệp, cần lồng ghép các tiêu chí quản lý xã hội đối với người lao động, nhất là dự báo nhu cầu lao động và cơ cấu kỹ năng; nhu cầu đào tạo, đào tạo lại; nhu cầu nhà ở, y tế, giáo dục, nhà trẻ, giao thông, thiết chế văn hóa; yêu cầu về an toàn, vệ sinh lao động trong các ngành có nguy cơ cao. Đối với khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu kinh tế và dự án công nghiệp quy mô lớn, cần coi đánh giá tác động xã hội là một nội dung của quá trình thẩm định, phê duyệt và theo dõi thực hiện.

Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện chính sách lao động, việc làm, tiền lương, an sinh xã hội và an toàn lao động.

Chính sách lao động cần chuyển từ mục tiêu có việc làm sang mục tiêu việc làm bền vững, trong đó người lao động có hợp đồng rõ ràng, thu nhập hợp lý, điều kiện làm việc an toàn, được tham gia, thụ hưởng chính sách an sinh xã hội và có cơ hội đào tạo lại khi công nghệ thay đổi. Về tiền lương, cần gắn cải thiện thu nhập với tăng năng suất lao động, đồng thời tính đến mức sống tối thiểu và chi phí thiết yếu của người lao động tại các vùng công nghiệp.

Về an sinh xã hội, cần tiếp tục mở rộng độ bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, nhất là với lao động trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, lao động hợp đồng ngắn hạn, lao động di cư và lao động trong chuỗi cung ứng phụ trợ. Bảo hiểm thất nghiệp cần trở thành công cụ hỗ trợ người lao động quay lại thị trường lao động với kỹ năng phù hợp hơn. Về an toàn lao động, cần tăng cường thanh tra dựa trên rủi ro, tập trung vào những ngành có nguy cơ cao như khai khoáng, xây dựng, cơ khí, luyện kim, dệt may, da giày, chế biến, chế tạo và nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong phòng ngừa tai nạn lao động.

Thứ ba, gắn quy hoạch khu công nghiệp với quy hoạch nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội và thiết chế văn hóa.

Nhà ở công nhân, nhà trẻ, y tế, giáo dục, giao thông công cộng và không gian văn hóa cần được coi là bộ phận cấu thành của hạ tầng phát triển công nghiệp. Đối với khu công nghiệp mới, phương án phát triển nhà ở và dịch vụ xã hội cho người lao động cần được xem xét ngay trong quá trình quy hoạch, phê duyệt và lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng. Đối với khu công nghiệp đã hoạt động, địa phương cần rà soát nhu cầu thực tế, quỹ đất và nguồn lực để bổ sung nhà ở xã hội, nhà lưu trú công nhân và dịch vụ thiết yếu. Trên cơ sở Quyết định số 338/QĐ-TTg ngày 03/4/2023 của Thủ tướng Chính phủ, cần phân rõ trách nhiệm giữa Nhà nước, địa phương, chủ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và doanh nghiệp sử dụng lao động trong phát triển nhà ở công nhân. Về lâu dài, cần chuyển từ mô hình khu công nghiệp tách biệt với đời sống xã hội của công nhân sang mô hình khu công nghiệp gắn với đô thị dịch vụ.

Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực công nghiệp thích ứng với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và công nghiệp công nghệ cao. 

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng để người lao động không bị bỏ lại phía sau trong quá trình chuyển đổi công nghệ. Do đó, đào tạo lại và nâng cao kỹ năng cần được coi là chính sách phòng ngừa rủi ro xã hội, đồng thời là giải pháp nâng cao năng suất lao động. Cần ưu tiên kỹ năng nghề cốt lõi, kỹ năng số và kỹ năng xanh; trong đó chú trọng khả năng vận hành thiết bị, sử dụng dữ liệu, thích ứng với tự động hóa, tiết kiệm năng lượng, giảm phát thải và tuân thủ tiêu chuẩn môi trường. Nhà nước cần hỗ trợ thông qua chính sách giáo dục nghề nghiệp, quỹ bảo hiểm thất nghiệp, ưu đãi thuế, tín dụng và đặt hàng đào tạo; doanh nghiệp cần xây dựng chương trình, đào tạo tại nơi làm việc và bố trí lại việc làm khi đổi mới công nghệ. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa cơ sở giáo dục nghề nghiệp, doanh nghiệp, ban quản lý khu công nghiệp và chính quyền địa phương trong dự báo nhu cầu nhân lực, xây dựng chuẩn kỹ năng và hỗ trợ chuyển đổi nghề.

Thứ năm, tăng cường cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp, địa phương, ban quản lý khu công nghiệp và tổ chức công đoàn.

Ở các địa bàn tập trung nhiều khu công nghiệp, cần thiết lập cơ chế phối hợp định kỳ về việc làm, tiền lương, bảo hiểm, nhà ở, dịch vụ xã hội, an toàn lao động và quan hệ lao động. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về người lao động tại các vùng công nghiệp để phục vụ hoạch định chính sách, dự báo nhu cầu nhà ở, đào tạo, dịch vụ xã hội và hỗ trợ an sinh. Khi chính sách công nghiệp gắn với chính sách xã hội và trách nhiệm của các chủ thể liên quan thì phát triển công nghiệp mới có thể bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng công nghiệp, tiến bộ xã hội và công bằng xã hội trong giai đoạn phát triển mới.  

Tài liệu tham khảo:

1. Đảng Cộng sản Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), https://tulieuvankien. dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xi/ cuong-linh-xay-dung-dat-nuoc-trong-thoi-ky-qua-do-len-chu-nghia-xa-hoibo-sung-phat-trien-nam-2011-1528.

2. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 42-NQ/TW ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

3. Quốc hội, Hiến pháp năm 2013.

4, 5, 7. Cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2024, Nxb Thống kê, H.2025.

6, 8. Hồng Phượng, Thực hiện chính sách bảo hiểm thất nghiệp năm 2025: Tín hiệu phục hồi tích cực của thị trường lao động, Tạp chí Tổ chức nhà nước và Lao động, ngày 09/02/2026, tại: https://tcnnld.vn/news/detail/71611/Thuc-hienchinh-sach-bao-hiem-that-nghiep-nam-2025-Tin-hieu-phuc-hoi-tich-cuc-cuathi-truong-lao-dong.html.

9. Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Thông báo 630/TB-BLĐTBXH ngày 18/02/2025 về tình hình tai nạn lao động năm 2024.

10. Bộ Xây dựng, Bộ Xây dựng công bố thông tin về nhà ở và thị trường bất động sản trong Quý II năm 2025, ngày 29/7/2025 tại: https://moc.gov.vn/en/_layouts/15/ NCS.Webpart.MOC/mt_poup/Intrangweb.aspx?IdNews=87076..