Dây chuyền may của Xí nghiệp May Khatoco.
Hai là, thu nhập của người lao động và yêu cầu nâng cao mức thụ hưởng từ phát triển công nghiệp. Tính đến năm 2024, thu nhập bình quân một lao động đang làm việc của toàn nền kinh tế tăng từ 5,6252 triệu đồng/tháng năm 2020 lên 7,7134 triệu đồng/tháng. Trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, thu nhập bình quân tăng từ 6,6582 triệu đồng/tháng lên 8,4442 triệu đồng/tháng. Một số ngành công nghiệp khác có mức thu nhập cao hơn bình quân chung năm 2024, như khai khoáng đạt 11,240 triệu đồng/tháng; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 11,4726 triệu đồng/tháng; cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải đạt 9,1195 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, mức tăng thu nhập chưa đồng đều giữa các ngành. Giai đoạn 2020 - 2024, thu nhập bình quân chung của nền kinh tế tăng khoảng 41,7%, trong khi thu nhập của lao động trong ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng khoảng 26,8% (Cục Thống kê, 2025). Điều này cho thấy, ngành tạo việc làm lớn nhất trong công nghiệp vẫn cần tiếp tục cải thiện mức thụ hưởng của người lao động tương xứng hơn với vai trò hấp thụ lao động và đóng góp vào quá trình công nghiệp hóa.
Ba là, an sinh xã hội, an toàn lao động và yêu cầu bảo vệ người lao động trước các rủi ro. An sinh xã hội và an toàn lao động là điều kiện quan trọng để người lao động thụ hưởng ổn định hơn thành quả phát triển công nghiệp. Số liệu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam cho thấy hệ thống an sinh xã hội đã được mở rộng đáng kể, nhất là bảo hiểm y tế. Tuy nhiên, độ bao phủ bảo hiểm xã hội và bảo hiểm thất nghiệp vẫn cần tiếp tục được mở rộng để đáp ứng tốt hơn yêu cầu bảo vệ người lao động trong quá trình phát triển công nghiệp.
Năm 2025 có 786.969 người có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp hàng tháng, bằng 96,3% số hồ sơ đề nghị (Hồng Phượng, 2026). Đối với người lao động trong lĩnh vực công nghiệp, khoảng trống an sinh có thể phát sinh ở một số nhóm: lao động làm việc trong doanh nghiệp nhỏ và vừa, lao động hợp đồng ngắn hạn, lao động thời vụ, lao động di cư, lao động trong các chuỗi cung ứng phụ trợ hoặc lao động bị gián đoạn việc làm do doanh nghiệp thu hẹp đơn hàng, đổi mới công nghệ, chuyển dịch sản xuất.
An toàn lao động cũng là nội dung không thể tách rời tiến bộ và công bằng xã hội tại nơi làm việc. Năm 2024 cả nước xảy ra 8.286 vụ tai nạn lao động, làm 8.472 người bị nạn, trong đó có 727 người chết và 1.690 người bị thương nặng. Một số lĩnh vực có tỷ trọng tai nạn lao động chết người đáng chú ý gồm khai thác mỏ, khai thác khoáng sản (chiếm 16,3% tổng số vụ tai nạn và 15,17% tổng số người chết); sản xuất vật liệu xây dựng (chiếm 9,72% tổng số vụ và 11,25% tổng số người chết); cơ khí, luyện kim (chiếm 6,62% tổng số vụ và 6,8% tổng số người chết); dệt may, da giày (3,5% tổng số vụ và 2,62% tổng số người chết), Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, 2025).
Bốn là, nhà ở công nhân, dịch vụ xã hội và yêu cầu phát triển hạ tầng xã hội tại các khu công nghiệp. Tính từ năm 2021 đến ngày 30/6/2025, cả nước có 692 dự án nhà ở xã hội được triển khai với quy mô 633.559 căn. Trong đó, 146 dự án đã hoàn thành với 102.387 căn; 124 dự án đã khởi công với 112.952 căn; 422 dự án đã được chấp thuận chủ trương đầu tư với 418.220 căn. Kết quả hoàn thành, khởi công và chấp thuận chủ trương đầu tư đạt 59,6% so với chỉ tiêu của Đề án (Bộ Xây dựng, 2025). Điều này cho thấy chính sách nhà ở xã hội, trong đó có nhà ở cho công nhân đã có chuyển động tích cực, nhưng vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu thực tế tại các vùng công nghiệp. Vấn đề đặt ra là nhà ở công nhân không nên được xem là chính sách phúc lợi bổ sung sau khi khu công nghiệp đã hình thành, mà cần được coi là một bộ phận của hạ tầng xã hội trong phát triển công nghiệp.