Bốn là, đầu tư trường nội trú liên cấp ở các xã biên giới kết hợp giá trị giáo dục, công bằng lãnh thổ và an ninh quốc gia. Tính đến tháng 6/2026, có 229 trường đã được khởi công tại các xã, phường biên giới; trong đó, 108 trường khởi công năm 2025 và 121 trường khởi công, động thổ năm 2026 (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026). Các công trình này dự kiến sẽ khánh thành ngay trong năm học 2026 - 2027. Chính sách không chỉ tạo cơ sở vật chất mà hướng tới thu hẹp khoảng cách học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương, cải thiện đời sống đồng bào và củng cố vùng biên. Giá trị công của chương trình cần được đánh giá qua khả năng trẻ em đến trường, duy trì học tập, chất lượng giáo viên, an toàn nội trú, kết quả học tập, mức độ phù hợp văn hóa và cơ hội phát triển sau giáo dục. Nếu công trình được hoàn thành nhưng thiếu nhân lực vận hành hoặc không gắn với gia đình, cộng đồng, giá trị tiềm năng sẽ không chuyển hóa đầy đủ thành giá trị đích thực. Bởi vậy, đầu tư xây dựng phải được quản trị như một hệ sinh thái dịch vụ giáo dục, không phải một dự án công trình đơn lẻ. Năm là, chuyển đổi số mở ra phương thức đồng kiến tạo dựa trên dữ liệu. Theo Khảo sát chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2024, Việt Nam xếp thứ 71/193 quốc gia về Chỉ số phát triển chính phủ điện tử, tăng 15 bậc so với năm 2022 (United Nations Department of Economic and Social Affairs, 2024). Tiến bộ này phản ánh sự phát triển về hạ tầng, dịch vụ trực tuyến và năng lực số của Nhà nước. Tuy nhiên, xếp hạng và số lượng dịch vụ mới đo điều kiện tạo giá trị; giá trị cuối cùng phải thể hiện ở thời gian, chi phí, khả năng tiếp cận, chất lượng quyết định và mức độ tin cậy của người sử dụng. Nền tảng Hue-S là một trường hợp đáng chú ý. Đến đầu năm 2026, hệ thống phản ánh hiện trường đã tiếp nhận, xử lý hơn 183.000 phản ánh, tỷ lệ xử lý trên 98% và mức hài lòng trên 92% theo công bố của thành phố Huế (Ủy ban nhân dân thành phố Huế, 2026). Người dân tham gia như “cảm biến xã hội”, cung cấp thông tin tại hiện trường; chính quyền thiết kế quy trình tiếp nhận, phân luồng, xử lý, công khai kết quả và tích lũy dữ liệu. Giá trị không nằm riêng ở ứng dụng mà ở vòng phản hồi khép kín và kỷ luật phối hợp. Công nghệ mở rộng năng lực cảm nhận của chính quyền, còn niềm tin được tạo ra khi phản ánh dẫn tới hành động có thể kiểm chứng. Những khoảng cách cần khắc phục Thực tiễn trên cho thấy Việt Nam có ba thế mạnh nổi bật trong việc kiến tạo giá trị công. Đó là: khả năng xác lập mục tiêu chiến lược ở quy mô quốc gia; năng lực huy động toàn hệ thống và nguồn lực xã hội khi xác lập ưu tiên rõ ràng; truyền thống đoàn kết, tương trợ tạo nền tảng cho đồng kiến tạo giá trị công. Nhiều chính sách đã hướng mạnh hơn đến nhóm yếu thế và chất lượng trải nghiệm. Tuy nhiên, năng lực quan trọng trong quá trình kiến tạo giá trị công chưa trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình thiết kế quản trị nhất quán. Thứ nhất, khái niệm giá trị công chưa được thể chế hóa thành yêu cầu bắt buộc trong thiết kế và đánh giá chính sách. Hồ sơ chính sách vẫn dễ tập trung vào căn cứ chính trị, pháp lý, nhiệm vụ, kinh phí, tiến độ và đầu ra; ít làm rõ giá trị ưu tiên, nhóm được lợi - chịu chi phí, xung đột giá trị, hệ quả ngoài dự kiến và cơ chế đo tác động sau thực thi. Vì vậy, có chính sách đúng về định hướng nhưng giá trị có thể bị suy giảm trong quá trình triển khai. Thứ hai, quản trị thực thi còn phân mảnh. Vấn đề của người dân thường đi qua nhiều cơ quan, trong khi trách nhiệm được tổ chức theo chức năng riêng lẻ. Mỗi đơn vị có thể hoàn thành phần việc nhưng kết quả cuối cùng vẫn có thể bị chậm hoặc gián đoạn. Triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp càng đòi hỏi quy trình liên thông, dữ liệu chung và trách nhiệm đến cùng thay cho việc chuyển hồ sơ giữa các đầu mối. Thứ ba, cơ chế đánh giá còn thiên về mức độ hoàn thành nhiệm vụ và tỷ lệ đúng hạn. Bộ Nội vụ công bố Chỉ số SIPAS năm 2025 đạt 83,09%, giảm 0,78 điểm phần trăm so với mức so sánh năm 2024; trong khi PAR Index bình quân của khối bộ, cơ quan ngang bộ đạt 87,20% và của khối tỉnh, thành phố đạt 89,96%, đều là mức cao nhất từ trước đến nay (Bộ Nội vụ, 2026). Sự dịch chuyển không cùng chiều này là một tín hiệu quan trọng: cải cách về quy trình và tổ chức chưa tự động chuyển thành trải nghiệm tốt hơn. Cần phân tích sâu theo hành trình dịch vụ, nhóm dân cư và loại vấn đề thay vì chỉ nhìn điểm trung bình. Thứ tư, đồng kiến tạo phần nhiều xuất hiện mạnh trong chiến dịch hoặc mô hình tiên phong, chưa trở thành phương thức thường xuyên của chu trình chính sách. Tham vấn đôi khi diễn ra muộn, khi phương án đã tương đối định hình; phản hồi chưa luôn gắn với nghĩa vụ giải trình về việc tiếp thu hay không tiếp thu. Nguồn lực xã hội được huy động tốt, nhưng quyền tham gia xác định vấn đề, thiết kế và giám sát giá trị cần được mở rộng. Thứ năm, chuyển đổi số có nguy cơ tạo “thất bại giá trị công” mới. Dịch vụ trực tuyến có thể làm giảm chi phí cho nhóm thành thạo công nghệ nhưng tăng khó khăn cho người cao tuổi, người khuyết tật, người có kỹ năng số thấp hoặc sống ở địa bàn kết nối hạn chế. DOANH NHÂN VIỆT NAM - KIẾN TẠO THỊNH VƯỢNG, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC Lãnh đạo phường Long Biên, thành phố Hà Nội trao thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc sau 01 năm triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn. Sai lệch dữ liệu, yêu cầu xác thực phức tạp, thiếu kênh hỗ trợ và rủi ro lộ lọt thông tin có thể làm hao hụt niềm tin. Bao trùm số vì vậy, phải được thiết kế ngay từ đầu, không phải biện pháp khắc phục sau khi nền tảng đã vận hành. Thứ sáu, năng lực của đội ngũ chưa đồng đều với yêu cầu mới. Công chức có thể nắm chắc quy định nhưng thiếu kỹ năng phân tích vấn đề phức hợp, thiết kế dịch vụ theo hành trình người dùng, làm việc với dữ liệu, điều phối mạng lưới hoặc đánh giá tác động. Tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm làm giảm không gian thử nghiệm có kiểm soát. Khi cơ chế quản trị nhân lực chủ yếu tưởng thưởng sự an toàn về thủ tục, động lực tạo thêm giá trị bị suy giảm.
Khuyến nghị nâng cao năng lực kiến tạo giá trị công
Thể chế hóa lăng kính giá trị công trong chu trình chính sách
Mỗi đề xuất chính sách, chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công và phương án cải cách dịch vụ cần có “tuyên bố giá trị công” ngắn gọn, trả lời tối thiểu năm câu hỏi: vấn đề thực chất nào của xã hội cần giải quyết; giá trị nào được ưu tiên và căn cứ là gì; ai được hưởng lợi, ai có thể chịu chi phí hoặc bị bỏ lại và được hỗ trợ bằng cách nào; hệ thống cần năng lực và sự ủng hộ nào để thực hiện; đo giá trị, kết quả cốt lõi và duy trì giá trị bằng cách nào. Tuyên bố này phải đi cùng hồ sơ đánh giá tác động, kế hoạch thực thi và dự toán, tránh hình thức, không khả thi. Đối với chính sách có xung đột giá trị lớn, cần công khai các phương án và đánh đổi. Ví dụ, miễn hoặc hỗ trợ chi phí dịch vụ phải được phân tích đồng thời về công bằng, chất lượng, tính bền vững tài khóa và hành vi phát sinh. Chính sách số phải đánh giá tác động đến quyền riêng tư, nhóm ít kỹ năng và khả năng sử dụng kênh thay thế. Cách làm này đưa lựa chọn giá trị ra khỏi vùng “mặc định kỹ thuật” và đặt nó vào đúng không gian trách nhiệm chính trị, pháp lý và xã hội