Lý thuyết giá trị công chuyển câu hỏi trung tâm của quản trị nhà nước từ cơ quan công quyền đã hoàn thành bao nhiêu nhiệm vụ sang người dân và xã hội thực nhận được giá trị gì. Trên cơ sở chắt lọc các cách tiếp cận của Moore, Bozeman, Benington, Stoker, Bryson và lý thuyết đồng kiến tạo dịch vụ công, bài viết đề xuất quan niệm phù hợp với Việt Nam: giá trị công là những kết quả và chuẩn mực có giá trị chung, được tạo ra bằng việc sử dụng chính đáng quyền lực, nguồn lực công và sự tham gia của xã hội; đáp ứng nhu cầu, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; bảo đảm công bằng, bao trùm và có khả năng duy trì sự liên tục giá trị chung. Phân tích giai đoạn 2020 - 2026 qua phòng, chống COVID-19, miễn học phí, lộ trình miễn viện phí, xóa nhà tạm, nhà dột nát, xây trường học vùng biên và Hue-S cho thấy Việt Nam có thế mạnh về định hướng chiến lược, huy động hệ thống và tinh thần cộng đồng, nhưng còn khoảng cách nhất định giữa chủ trương với kết quả, số hóa với trải nghiệm, hoàn thành nhiệm vụ với tác động xã hội. Bài viết đề xuất thể chế hóa lý thuyết giá trị công trong chu trình chính sách, đổi mới quản trị thực thi và đánh giá cán bộ, công chức, phát triển năng lực đồng kiến tạo, quản trị dữ liệu và bảo đảm bao trùm số

PGS.TS. NGUYỄN BÁ CHIẾN - Giám đốc Học viện Hành chính và Quản trị công, Ủy viên Hội đồng Lý luận Trung ương

Tại Kỳ họp không thường lệ thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI, với tuyệt đại đa số đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết phê duyệt chủ trương
đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035.

 

Đặt vấn đề

Trong quản trị nhà nước, một chính sách có thể được ban hành đúng thẩm quyền, một chương trình có thể giải ngân đúng kế hoạch và một thủ tục có thể được xử lý đúng hạn, nhưng những kết quả đó không tự động đồng nghĩa với việc giá trị công đã được tạo ra. Nếu người dân vẫn phải đi lại nhiều lần, nhóm yếu thế khó tiếp cận, chi phí xã hội không hợp lý bị đẩy sang người sử dụng, niềm tin suy giảm hoặc lợi ích chỉ tập trung vào một nhóm nhỏ… thì hiệu suất hành chính có thể tăng nhưng giá trị công vẫn thấp. Đây là khác biệt quan trọng giữa quản lý theo đầu việc và quản trị hướng tới kết quả có ý nghĩa đối với xã hội. Khái niệm “giá trị công” được đưa ra bởi Mark H.Moore, giáo sư Trường Harvard Kennedy School. Ông cho rằng: giá trị công là những lợi ích mà nhà nước và chính quyền tạo ra cho xã hội, được người dân công nhận là có ý nghĩa, chính đáng và xứng đáng được đầu tư nguồn lực công. Giá trị công cũng có nghĩa là làm cho đời sống người dân tốt hơn, xã hội công bằng hơn, niềm tin vào chính quyền cao hơn, xã hội phát triển bền vững hơn. Có nghĩa rằng, giá trị công hàm chứa các giá trị: hiệu quả, công bằng, niềm tin và phát triển. Sau ba thập niên, lý thuyết này đã mở rộng từ chiến lược của nhà quản lý công sang quản trị mạng lưới, đồng kiến tạo dịch vụ và chuyển đổi dịch vụ công (Alford & O'Flynn, 2009; Bryson et al.,

2014; OECD, 2019; Osborne, 2018). Tuy vậy, giá trị công vẫn là một khái niệm có nhiều tranh luận, như: ai có quyền xác định điều gì là có giá trị? Làm thế nào xử lý xung đột giữa hiệu quả và công bằng, giữa lợi ích trước mắt và bền vững dài hạn, giữa mong muốn của số đông và quyền của nhóm thiểu số? Có thể đo lường giá trị công bằng một chỉ số duy nhất hay không? Những câu hỏi đó càng quan trọng khi vận dụng lý thuyết vào một bối cảnh thực tiễn cụ thể. Ở Việt Nam, yêu cầu lấy Nhân dân là trung tâm, mục tiêu, động lực, chủ thể; gắn trách nhiệm với kết quả và kỷ luật thực thi với sự hài lòng của Nhân dân đã được nhấn mạnh trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Cùng với đó, chuyển đổi số quốc gia, mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp, phân cấp, phân quyền và các chính sách xã hội quy mô lớn đang làm thay đổi phương thức Nhà nước tạo ra và phân phối giá trị. Đây là điều kiện thuận lợi để tiếp cận giá trị công trở thành một lăng kính cải cách. Song nếu chỉ sử dụng khái niệm này như cách gọi mới cho thành tựu quản lý nhà nước thì ý nghĩa và giá trị của lý thuyết giá trị công sẽ bị suy giảm. Bài viết tập trung trả lời bốn câu hỏi: giá trị công là gì và có thể quan niệm như thế nào trong điều kiện Việt Nam; bối cảnh mới đặt ra những yêu cầu gì đối với kiến tạo giá trị công; thực tiễn Việt Nam giai đoạn 2020 - 2026 cho thấy những năng lực và khoảng cách nào;

 

 

Tổng Bí thư Tô Lâm tham quan mô hình tra cứu thủ tục hành chính trên nền tảng iHanoi tại Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội, ngày 01/7/2025 Tổng Bí thư Tô Lâm tham quan mô hình tra cứu thủ tục hành chính trên nền tảng iHanoi tại Trung tâm phục vụ hành chính công thành phố Hà Nội, ngày 01/7/2025

Cần điều chỉnh thể chế, phương thức thực thi và năng lực đội ngũ như thế nào. Phương pháp chủ yếu là tổng quan có chọn lọc các công trình nghiên cứu nền tảng, phân tích văn bản chính sách và đối chiếu một số trường hợp thực tiễn. Mục tiêu của bài viết không phải xây dựng một danh mục đầy đủ mọi giá trị mà đề xuất một khung phân tích cô đọng, có khả năng sử dụng trong thiết kế, thực thi và đánh giá chính sách ở Việt Nam.
Giá trị công và khung phân tích phù hợp với Việt Nam
Những hướng tiếp cận chủ yếu trên thế giới
Trong công trình Creating Public Value, Moore (1995) đặt trọng tâm vào trách nhiệm chiến lược của nhà quản lý công khi sử dụng tài sản và quyền lực do công chúng ủy thác.
Một chiến lược công có khả năng tạo giá trị khi ba yếu tố của “tam giác chiến lược” được căn chỉnh: đề xuất giá trị có ý nghĩa thực chất; có tính chính đáng và nhận được sự ủng hộ từ người dân; có năng lực hoạt động để triển khai. Đóng góp căn bản của Moore là chuyển “điểm cuối” của quản lý công từ hoàn thành quy trình sang tạo ra kết quả được xã hội coi là có giá trị. Cách tiếp cận này cũng khẳng định người dân không chỉ là khách hàng lựa chọn dịch vụ mà còn là công dân có quyền, nghĩa vụ và tiếng nói đối với việc sử dụng quyền lực công. Alford và O'Flynn (2009) cho thấy khái niệm giá trị công đã được sử dụng theo nhiều nghĩa: một mô hình chiến lược cho nhà quản lý, một hệ chuẩn mực về những điều tốt đẹp trong đời sống xã hội, một cách đánh giá kết quả của tổ chức công hoặc một mô hình quản trị. Sự đa nghĩa giúp lý thuyết lan tỏa nhưng cũng tạo nguy cơ: nếu bất cứ kết quả tích cực nào cũng được gọi là giá trị công thì khái niệm mất khả năng phân biệt. Vì vậy, phải làm rõ chủ thể xác định giá trị, quá trình xác lập tính chính đáng, kết quả hướng tới và chi phí hoặc hệ quả bất lợi đi kèm. Benington và Moore (2011) mở rộng cách hiểu từ “giá trị mà công chúng coi trọng” sang “giá trị bổ sung cho không gian công”. Điều công chúng mong muốn tại một thời điểm chưa chắc đã bảo vệ lợi ích dài hạn, quyền của nhóm thiểu số hoặc các chuẩn mực hiến định. Giá trị công vì thế, vừa được hình thành qua thảo luận xã hội, vừa phải được kiểm chứng bằng các nguyên tắc công như pháp quyền, công bằng, minh bạch, liêm chính và bền vững.
Cách tiếp cận này giúp tránh việc đồng nhất giá trị công với sự hài lòng tức thời hay ý kiến của số đông. Từ một hướng khác, Bozeman (2002) nghiên cứu “các giá trị công” và “thất bại giá trị công”. Nếu Moore hỏi nhà quản lý làm thế nào tạo ra giá trị, Bozeman quan tâm xã hội cần những chuẩn mực nào và khi nào các chuẩn mực đó bị tổn hại, ngay cả khi thị trường vận hành hiệu quả. Thất bại giá trị công có thể xảy ra khi cơ chế biểu đạt và tổng hợp lợi ích bị suy yếu; lợi ích bị chiếm giữ bởi nhóm đặc quyền; thông tin công không đầy đủ; tầm nhìn chính sách quá ngắn; hoặc việc thương mại hóa đe dọa các quyền và nhu cầu sinh tồn thiết yếu. Đóng góp này nhắc rằng, hoạt động của Nhà nước không mặc nhiên tạo giá trị công. Chính sách có thể tạo thêm giá trị cho nhóm này nhưng làm hao hụt giá trị của nhóm khác. Sự phát triển của quản trị mạng lưới làm thay đổi giả định về chủ thể kiến tạo. Stoker (2006) nhìn nhận quản trị giá trị công là một cách tổ chức hành động phù hợp với xã hội phụ thuộc lẫn nhau, nơi Nhà nước không thể giải quyết vấn đề phức hợp nếu chỉ dựa vào mệnh lệnh đơn tuyến. Bryson, Crosby và Bloomberg (2014) tiếp tục phát triển khung lý thuyết về quản trị giá trị công với sự nhấn mạnh vai trò của thể chế dân chủ, lãnh đạo chia sẻ, hợp tác liên ngành và liên khu vực. Giá trị công có thể do cơ quan nhà nước khởi xướng nhưng thường được tạo ra bởi mạng lưới nhiều bên gồm Nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức xã hội, cộng đồng và người dân. Lý thuyết đồng sản xuất của Ostrom (1996) và cách tiếp cận dịch vụ công của Osborne (2018) làm rõ hơn vai trò trung tâm của người sử dụng. Giá trị của dịch vụ không kết thúc tại thời điểm cơ quan công quyền “bàn giao” đầu ra. Nó hình thành trong quá trình người dân sử dụng, thông qua sự tương tác và kết hợp dịch vụ với năng lực, hoàn cảnh của họ.
Một cổng dịch vụ công đa chức năng chưa chắc tạo giá trị nếu người cao tuổi không thể đăng nhập; một trường học mới chưa phát huy đầy đủ giá trị nếu thiếu giáo viên, phương tiện đi lại và điều kiện duy trì học tập. Người dân vì vậy là chủ thể chủ động tham gia kiến tạo giá trị ngay từ khâu vận hành, chứ không phải người thụ hưởng thụ động ở cuối quy trình. Meynhardt (2009) bổ sung chiều cạnh về trải nghiệm và cảm nhận tâm lý - xã hội: giá trị chỉ trở thành giá trị công khi tác động của tổ chức được con người đánh giá trong mối liên hệ với nhu cầu cơ bản và đời sống chung. Cách nhìn này giải thích, vì sao cùng một chính sách có thể được các nhóm xã hội cảm nhận khác nhau. Nó cũng cảnh báo việc đo lường chỉ bằng số lượng đầu ra hoặc tự đánh giá của cơ quan cung ứng

Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành, UBND các xã, phường về công tác cải cách hành chính, ngày 16/4/2026 Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Vũ Đại Thắng chủ trì cuộc họp với lãnh đạo các sở, ngành, UBND các xã, phường về công tác cải cách hành chính, ngày 16/4/2026

Từ các hướng tiếp cận trên, có thể rút ra năm điểm thống nhất. Thứ nhất, giá trị công rộng hơn hiệu quả kinh tế; nó bao gồm hiệu quả xã hội và các chuẩn mực của quá trình thực thi công quyền. Thứ hai, giá trị công không do cơ quan nhà nước đơn phương tuyên bố mà kết quả phải có căn cứ chính đáng, được phản hồi và kiểm chứng trong đời sống xã hội. Thứ ba, Nhà nước giữ vai trò đặc biệt do nắm quyền lực công và nguồn lực công, nhưng kết quả, giá trị ngày càng được hình thành thông qua đồng kiến tạo với sự tham gia của nhiều chủ thể trong xã hội. Thứ tư, giá trị công luôn chứa đựng lựa chọn và đánh đổi; cần tính cả chi phí, hệ quả ngoài dự kiến và sự phân phối lợi ích giữa các nhóm. Thứ năm, người dân vừa là chủ thể tham gia vừa là người thụ hưởng giá trị công.
Quan niệm về giá trị công trong điều kiện Việt Nam
Vận dụng quan niệm về giá trị công vào Việt Nam, cần đặt lý thuyết này trong mối quan hệ tổng thể Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; mục tiêu phát triển nhanh, bền vững; bảo đảm quyền con người, quyền công dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị - xã hội; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nền hành chính phục vụ. Môi trường ủy quyền ở đây được cấu thành bởi định hướng lãnh đạo của Đảng, Hiến pháp và pháp luật, các thiết chế đại diện, giám sát và phản biện xã hội, cùng sự tham gia và đánh giá của Nhân dân. Yếu tố thể chế đặc thù không thay thế các phép kiểm định của giá trị công mà xác định rõ hơn căn cứ chính đáng, mục tiêu chiến lược và trách nhiệm của hệ thống chính trị. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ tư duy, thúc đẩy đột phá chiến lược, kiến tạo hệ sinh thái phát triển mới, bảo đảm quan điểm lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển và không ngừng nâng cao đời sống, hạnh phúc của Nhân dân; tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước, trong đó thể chế chính trị là then chốt, thể chế kinh tế là trọng tâm, các thể chế khác là quan trọng” và “Phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 

 

Quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước phải thực sự xuất phát từ nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; lấy việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo và mục tiêu phấn đấu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Theo đó, có thể quan niệm: Giá trị công là những kết quả và chuẩn mực có giá trị chung, được tạo ra thông qua việc sử dụng chính đáng quyền lực, nguồn lực công và sự tham gia của các chủ thể trong xã hội; đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; góp phần phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc; bảo đảm công bằng, bao trùm, tăng cường niềm tin và có khả năng duy trì liên tục giá trị chung. Quan niệm này có năm hàm ý. Một là, giá trị công bao gồm giá trị, kết quả, như an toàn, sức khỏe, tri thức, sinh kế, chất lượng sống, môi trường sống, cơ hội phát triển; và gắn với quá trình hình thành giá trị công như: pháp quyền, minh bạch, tham gia, công bằng thủ tục, liêm chính, trách nhiệm giải trình. Hai là, Nhà nước có vai trò kiến tạo, huy động nguồn lực và bảo đảm cuối cùng, nhưng không phải chủ thể duy nhất tạo ra giá trị công. Ba là, ý kiến và sự hài lòng của người dân là bằng chứng quan trọng nhưng cần được đặt cùng quyền, lợi ích dài hạn và lợi ích của nhóm ít có tiếng nói. Bốn là, phải đánh giá giá trị, kết quả cốt lõi: kết quả cuối cùng sau khi tính đến chi phí công, chi phí tuân thủ, tác động phân phối, rủi ro và hệ quả ngoài dự kiến. Năm là, một giá trị công chỉ bền vững khi có năng lực duy trì, thích ứng và học hỏi liên tục. Khái niệm “giá trị công quốc gia” trong bài viết được dùng để chỉ hệ giá trị công được kiến tạo ở quy mô quốc gia, gắn với quốc gia, phản ánh các mục tiêu chung và điều kiện phát triển của đất nước. Nội hàm bao gồm: độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;

Lễ ra mắt ứng dụng Zalo Mini App “Phường Gò Vấp Smart”, bước tiến mới trong chuyển đổi số phục vụ Nhân dân tại phường Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh. Lễ ra mắt ứng dụng Zalo Mini App “Phường Gò Vấp Smart”, bước tiến mới trong chuyển đổi số phục vụ Nhân dân tại phường Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu chỉ đạo Hội nghị sơ kết tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số của Bộ Xây dựng Ủy viên Trung ương Đảng, Bộ trưởng Bộ Xây dựng Trần Hồng Minh phát biểu chỉ đạo Hội nghị sơ kết tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị và Kế hoạch hành động 100 ngày xử lý điểm nghẽn về chuyển đổi số của Bộ Xây dựng

An ninh, an toàn; phát triển và năng lực tự chủ; pháp quyền, công bằng và quyền con người; đời sống, hạnh phúc và cơ hội phát triển của Nhân dân; đoàn kết, niềm tin xã hội; môi trường và tính bền vững; đất nước phồn vinh, hạnh phúc và vị thế quốc gia.
Kiến tạo giá trị công và năng lực kiến tạo giá trị công
Kiến tạo giá trị công là hoạt động của nhà nước tạo ra giá trị cho xã hội. Kiến tạo giá trị công không phải một hoạt động riêng lẻ sau khi chính sách đã được ban hành. Đó là quá trình xuyên suốt từ nhận diện vấn đề, xác định giá trị ưu tiên, thiết kế thể chế, chính sách, huy động sự ủng hộ và nguồn lực, tổ chức thực thi hiệu quả, đo lường kết quả đến tiếp nhận phản hồi và điều chỉnh. Trong điều kiện Việt Nam, quá trình này diễn ra trong toàn hệ thống chính trị: định hướng và lãnh đạo chiến lược của Đảng; thể chế hóa, quản lý và tổ chức thực hiện của Nhà nước; giám sát, phản biện và tập hợp của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các tổ chức chính trị - xã hội; sự tham gia của doanh nghiệp, cộng đồng và Nhân dân. Vì vậy, năng lực kiến tạo giá trị công là năng lực hệ thống. Có thể nhận diện sáu năng lực cấu thành hệ thống này: (1) đánh giá và dự báo nhu cầu xã hội, phát hiện sớm khoảng trống và rủi ro có thể xảy ra; (2) thiết kế các giá trị công và xử lý trên cơ sở dữ liệu và bằng chứng; (3) xác lập tính chính đáng, tham vấn và tạo đồng thuận; (4) huy động, phối hợp nguồn lực trong và ngoài Nhà nước; (5) thực thi dựa trên dữ liệu, thích ứng với sự khác biệt về chủ thể, địa bàn, đối tượng và tình huống có thể phát sinh; (6) đo lường giá trị, kết quả cốt lõi, học hỏi và chịu trách nhiệm. Sáu năng lực này là cầu nối giữa mục tiêu chính trị, thể chế và kết quả mà người dân thực sự cảm nhận và thụ hưởng.
Bối cảnh và yêu cầu đối với kiến tạo giá trị công ở Việt Nam
Thứ nhất, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu cao hơn về chất lượng phát triển và hạnh phúc của Nhân dân. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng yêu cầu gắn trách nhiệm với kết quả, kỷ luật thực thi với sự hài lòng của Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Điều đó tạo cơ sở chính trị để chuyển trọng tâm từ báo cáo khối lượng công việc sang kết quả đạt được, được chứng minh qua những tác động cụ thể đối với người dân và xã hội. Tăng trưởng, đầu tư hay số hóa là cần thiết để phát triển, nhưng phải được trả lời bằng những thay đổi cụ thể về cơ hội, thu nhập, sức khỏe, giáo dục, an toàn, công bằng và niềm tin của người dân và xã hội. Thứ hai, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đang tái cấu trúc quan hệ giữa Nhà nước với người dân. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định người dân, doanh nghiệp là trung tâm, chủ thể, nguồn lực và động lực chính; Nhà nước giữ vai trò dẫn dắt, thúc đẩy và tạo điều kiện thuận lợi nhất cho phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024). Công nghệ giúp giảm chi phí giao dịch, cung cấp dịch vụ không phụ thuộc địa giới hành chính, cá thể hóa hỗ trợ và tăng khả năng dự báo. Nhưng giá trị số không xuất hiện chỉ bằng việc đưa quy trình giấy lên màn hình. Nếu dữ liệu không chính xác, nền tảng thiếu liên thông, giao diện khó sử dụng hoặc dịch vụ chỉ phù hợp với người có thiết bị và kỹ năng, chuyển đổi số có thể tạo thêm tầng bất bình đẳng. Thứ ba, mô hình chính quyền địa phương 02 cấp từ ngày 01/7/2025 đã rút ngắn tầng nấc, đưa nhiều thẩm quyền và nhiệm vụ về cấp tỉnh và đặc biệt là cấp xã. Cấp xã trở thành điểm tiếp xúc trực tiếp và cấp quản trị thực thi giải quyết nhiều vấn đề quan trọng, thiết yếu hơn. Đây là cơ hội tăng tính đáp ứng, nhưng cũng tạo áp lực lớn về năng lực tích hợp, dữ liệu, phối hợp và trách nhiệm giải trình. Phân cấp chỉ tạo giá trị khi thẩm quyền đi cùng nguồn lực, năng lực và cơ chế kiểm soát; nếu không, khoảng cách thể chế có thể chuyển thành gánh nặng tại tuyến gần dân nhất. Thứ tư, các vấn đề công ngày càng phức hợp và vượt ranh giới ngành, cấp, địa phương. Dịch bệnh, thiên tai, già hóa dân số, ô nhiễm, an ninh phi truyền thống, việc làm trong kỷ nguyên AI,… không thể được giải quyết bởi một cơ quan đơn lẻ, hay tình thế. Điều này đòi hỏi Nhà nước chuyển từ phối hợp theo vụ việc sang quản trị tích hợp, quản trị mạng lưới, theo vòng đời, theo vấn đề công có mục tiêu chung, dữ liệu chung và trách nhiệm rõ ràng. Thứ năm, kỳ vọng xã hội tăng nhanh trong khi nguồn lực công hữu hạn. Người dân so sánh trải nghiệm công với dịch vụ của khu vực tư; đồng thời đòi hỏi Nhà nước bảo vệ công bằng và các quyền mà thị trường không tự bảo đảm. Yêu cầu đặt ra là tạo nhiều giá trị hơn từ mỗi đơn vị nguồn lực

Nhưng không đánh đổi công bằng, khả năng tiếp cận và chất lượng dài hạn. Chính phủ mạnh trong giai đoạn mới không phải ở chủ yếu bằng quy mô quyền lực, mà bằng năng lực biến quyền lực được giao thành kết quả có giá trị chung. Từ bối cảnh trên, việc vận dụng lý thuyết giá trị công ở Việt Nam cần tạo ra năm chuyển dịch: từ đầu vào và đầu ra sang kết quả và tác động; từ cung ứng đồng loạt sang đáp ứng nhu cầu khác biệt; từ Nhà nước làm thay sang Nhà nước dẫn dắt đồng kiến tạo; từ số hóa quy trình sang thiết kế lại hành trình của người dân; từ đánh giá nội bộ theo năm sang trách nhiệm giải trình về giá trị, kết quả cốt lõi và tính bền vững.
Thực tiễn kiến tạo giá trị công ở Việt Nam giai đoạn 2020 - 2026
Những biểu hiện nổi bật
Một là, phòng, chống dại dịch COVID-19 cho thấy năng lực tạo giá trị trong tình huống khẩn cấp và chưa có tiền lệ. Giá trị công trước hết là bảo vệ tính mạng, sức khỏe và duy trì điều kiện hoạt động thiết yếu của xã hội. Giai đoạn đầu có thể chậm phản ứng và không tránh khỏi những hạn chế vì phải ứng phó với việc chưa có tiền lệ. Nhưng chiến dịch tiêm chủng được triển khai với tốc độ và quy mô lớn; đến cuối năm 2022, Tổ chức Y tế thế giới ghi nhận Việt Nam có độ bao phủ gần 100% đối với liều cơ bản và thuộc nhóm quốc gia có tỷ lệ tiêm chủng cao (World Health Organization, 2022). Các đội tiêm lưu động đến nhà người cao tuổi, người khuyết tật không thể tới cơ sở y tế là một minh chứng về công bằng tiếp cận (World Health Organization, 2022). Kết quả này gắn với sự lãnh đạo tập trung, điều phối đa ngành, phân định trách nhiệm giữa các cấp và huy động nhanh nguồn lực theo cách tiếp cận toàn xã hội (World Health Organization, 2020). Nhìn từ lý thuyết giá trị công, thành công không phải ở số liều vaccine. Giá trị đạt được ở khả năng ưu tiên nhóm nguy cơ, khôi phục hoạt động xã hội và củng cố năng lực ứng phó, và sự điều chỉnh, thích ứng, cải tiến sau từng sự việc. Đồng thời, đại dịch COVID-19 cũng cho thấy yêu cầu phải cân bằng giữa bảo vệ sức khỏe cộng đồng với quyền, sinh kế, học tập và sức khỏe tinh thần; giữa quyết định nhanh với minh bạch và giải trình. Bài học quan trọng là trong khủng hoảng, tính chính đáng và niềm tin là một bộ phận của năng lực thực thi, không đơn thuần là yếu tố bổ trợ. Hai là, các chính sách giáo dục, y tế chuyển dần từ hỗ trợ có điều kiện sang bảo đảm tiếp cận rộng hơn. Nghị quyết số 217/2025/QH15 quy định miễn học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông và người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục công lập; đồng thời hỗ trợ học phí đối với các nhóm người học tương ứng trong cơ sở giáo dục dân lập, tư thục từ năm học 2025 - 2026 (Quốc hội, 2025). Giá trị công của chính sách nằm ở việc giảm rào cản tài chính, mở rộng cơ hội học tập và chia sẻ chi phí nuôi dưỡng nguồn nhân lực giữa gia đình với Nhà nước. Việc khai thác dữ liệu để không yêu cầu người học nộp đơn xin miễn, hỗ trợ còn thể hiện nguyên tắc dịch vụ chủ động và giảm chi phí tuân thủ (Chính phủ, 2025). Trong lĩnh vực y tế, Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 đặt mục tiêu từng bước thực hiện miễn viện phí, trước hết với đối tượng chính sách xã hội, người yếu thế, người thu nhập thấp và các nhóm ưu tiên trong phạm vi quyền lợi bảo hiểm y tế (Bộ Chính trị, 2025). Nghị quyết cũng định hướng và xác định rõ lộ trình chính sách, để thực hiện miễn viện phí cho toàn dân. Giá trị kỳ vọng rất lớn, nhưng giá trị đích thực chỉ được xác lập khi quyền lợi được bảo đảm bởi chính sách bền vững, tuyến y tế cơ sở đủ năng lực, chất lượng không suy giảm, thủ tục tiếp cận đơn giản và chi phí không chuyển sang khoản chi ngoài phạm vi bảo hiểm. Trường hợp này cho thấy công bằng tiếp cận phải đi cùng năng lực cung ứng và bền vững tài khóa. Ba là, Chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát thể hiện rõ cơ chế đồng kiến tạo. Đến tháng 8/2025, cả nước đã hoàn thành xóa 334.234 căn nhà tạm, nhà dột nát; huy động trên 24,7 nghìn tỷ đồng từ xã hội hóa và hơn 2,7 triệu ngày công, với sự tham gia của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, lực lượng vũ trang, doanh nghiệp, cộng đồng và chính các hộ dân (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2025). Giá trị trực tiếp là chỗ ở an toàn; giá trị rộng hơn là phẩm giá, ổn định gia đình, khả năng chống chịu và niềm tin xã hội. Cơ chế huy động toàn xã hội giúp mở rộng năng lực hoạt động vượt ra ngoài ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, một căn nhà hoàn thành mới là nền tảng “an cư”. Giá trị bền vững phụ thuộc vào sinh kế, hạ tầng, dịch vụ thiết yếu, khả năng ứng phó thiên tai và việc ngăn tái nghèo. Đây là ví dụ rõ về khác biệt giữa đầu ra của chương trình và kết quả dài hạn của chính sách. Nếu chỉ dừng ở số căn nhà, hệ thống đo lường sẽ bỏ qua phần giá trị quan trọng nhất sau bàn giao.

Phòng Tổ chức cán bộ Công an tỉnh Tây Ninh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu; thực hiện quét, số hóa hồ sơ và cập nhật thông tin lên hệ thống quản lý dữ liệu cán bộ theo quy định Phòng Tổ chức cán bộ Công an tỉnh Tây Ninh rà soát, chuẩn hóa dữ liệu; thực hiện quét, số hóa hồ sơ và cập nhật thông tin lên hệ thống quản lý dữ liệu cán bộ theo quy định

Dưới sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ Dưới sự điều hành của Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Hồng Diên, Quốc hội tiến hành thảo luận tại Hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tần số vô tuyến điện, Luật Viễn thông, Luật Giao dịch điện tử và Luật Chuyển giao công nghệ

Bốn là, đầu tư trường nội trú liên cấp ở các xã biên giới kết hợp giá trị giáo dục, công bằng lãnh thổ và an ninh quốc gia. Tính đến tháng 6/2026, có 229 trường đã được khởi công tại các xã, phường biên giới; trong đó, 108 trường khởi công năm 2025 và 121 trường khởi công, động thổ năm 2026 (Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, 2026). Các công trình này dự kiến sẽ khánh thành ngay trong năm học 2026 - 2027. Chính sách không chỉ tạo cơ sở vật chất mà hướng tới thu hẹp khoảng cách học tập, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực địa phương, cải thiện đời sống đồng bào và củng cố vùng biên. Giá trị công của chương trình cần được đánh giá qua khả năng trẻ em đến trường, duy trì học tập, chất lượng giáo viên, an toàn nội trú, kết quả học tập, mức độ phù hợp văn hóa và cơ hội phát triển sau giáo dục. Nếu công trình được hoàn thành nhưng thiếu nhân lực vận hành hoặc không gắn với gia đình, cộng đồng, giá trị tiềm năng sẽ không chuyển hóa đầy đủ thành giá trị đích thực. Bởi vậy, đầu tư xây dựng phải được quản trị như một hệ sinh thái dịch vụ giáo dục, không phải một dự án công trình đơn lẻ. Năm là, chuyển đổi số mở ra phương thức đồng kiến tạo dựa trên dữ liệu. Theo Khảo sát chính phủ điện tử của Liên hợp quốc năm 2024, Việt Nam xếp thứ 71/193 quốc gia về Chỉ số phát triển chính phủ điện tử, tăng 15 bậc so với năm 2022 (United Nations Department of Economic and Social Affairs, 2024). Tiến bộ này phản ánh sự phát triển về hạ tầng, dịch vụ trực tuyến và năng lực số của Nhà nước. Tuy nhiên, xếp hạng và số lượng dịch vụ mới đo điều kiện tạo giá trị; giá trị cuối cùng phải thể hiện ở thời gian, chi phí, khả năng tiếp cận, chất lượng quyết định và mức độ tin cậy của người sử dụng. Nền tảng Hue-S là một trường hợp đáng chú ý. Đến đầu năm 2026, hệ thống phản ánh hiện trường đã tiếp nhận, xử lý hơn 183.000 phản ánh, tỷ lệ xử lý trên 98% và mức hài lòng trên 92% theo công bố của thành phố Huế (Ủy ban nhân dân thành phố Huế, 2026). Người dân tham gia như “cảm biến xã hội”, cung cấp thông tin tại hiện trường; chính quyền thiết kế quy trình tiếp nhận, phân luồng, xử lý, công khai kết quả và tích lũy dữ liệu. Giá trị không nằm riêng ở ứng dụng mà ở vòng phản hồi khép kín và kỷ luật phối hợp. Công nghệ mở rộng năng lực cảm nhận của chính quyền, còn niềm tin được tạo ra khi phản ánh dẫn tới hành động có thể kiểm chứng. Những khoảng cách cần khắc phục Thực tiễn trên cho thấy Việt Nam có ba thế mạnh nổi bật trong việc kiến tạo giá trị công. Đó là: khả năng xác lập mục tiêu chiến lược ở quy mô quốc gia; năng lực huy động toàn hệ thống và nguồn lực xã hội khi xác lập ưu tiên rõ ràng; truyền thống đoàn kết, tương trợ tạo nền tảng cho đồng kiến tạo giá trị công. Nhiều chính sách đã hướng mạnh hơn đến nhóm yếu thế và chất lượng trải nghiệm. Tuy nhiên, năng lực quan trọng trong quá trình kiến tạo giá trị công chưa trở thành một yếu tố quan trọng trong quá trình thiết kế quản trị nhất quán. Thứ nhất, khái niệm giá trị công chưa được thể chế hóa thành yêu cầu bắt buộc trong thiết kế và đánh giá chính sách. Hồ sơ chính sách vẫn dễ tập trung vào căn cứ chính trị, pháp lý, nhiệm vụ, kinh phí, tiến độ và đầu ra; ít làm rõ giá trị ưu tiên, nhóm được lợi - chịu chi phí, xung đột giá trị, hệ quả ngoài dự kiến và cơ chế đo tác động sau thực thi. Vì vậy, có chính sách đúng về định hướng nhưng giá trị có thể bị suy giảm trong quá trình triển khai. Thứ hai, quản trị thực thi còn phân mảnh. Vấn đề của người dân thường đi qua nhiều cơ quan, trong khi trách nhiệm được tổ chức theo chức năng riêng lẻ. Mỗi đơn vị có thể hoàn thành phần việc nhưng kết quả cuối cùng vẫn có thể bị chậm hoặc gián đoạn. Triển khai thực hiện mô hình chính quyền địa phương 02 cấp càng đòi hỏi quy trình liên thông, dữ liệu chung và trách nhiệm đến cùng thay cho việc chuyển hồ sơ giữa các đầu mối. Thứ ba, cơ chế đánh giá còn thiên về mức độ hoàn thành nhiệm vụ và tỷ lệ đúng hạn. Bộ Nội vụ công bố Chỉ số SIPAS năm 2025 đạt 83,09%, giảm 0,78 điểm phần trăm so với mức so sánh năm 2024; trong khi PAR Index bình quân của khối bộ, cơ quan ngang bộ đạt 87,20% và của khối tỉnh, thành phố đạt 89,96%, đều là mức cao nhất từ trước đến nay (Bộ Nội vụ, 2026). Sự dịch chuyển không cùng chiều này là một tín hiệu quan trọng: cải cách về quy trình và tổ chức chưa tự động chuyển thành trải nghiệm tốt hơn. Cần phân tích sâu theo hành trình dịch vụ, nhóm dân cư và loại vấn đề thay vì chỉ nhìn điểm trung bình. Thứ tư, đồng kiến tạo phần nhiều xuất hiện mạnh trong chiến dịch hoặc mô hình tiên phong, chưa trở thành phương thức thường xuyên của chu trình chính sách. Tham vấn đôi khi diễn ra muộn, khi phương án đã tương đối định hình; phản hồi chưa luôn gắn với nghĩa vụ giải trình về việc tiếp thu hay không tiếp thu. Nguồn lực xã hội được huy động tốt, nhưng quyền tham gia xác định vấn đề, thiết kế và giám sát giá trị cần được mở rộng. Thứ năm, chuyển đổi số có nguy cơ tạo “thất bại giá trị công” mới. Dịch vụ trực tuyến có thể làm giảm chi phí cho nhóm thành thạo công nghệ nhưng tăng khó khăn cho người cao tuổi, người khuyết tật, người có kỹ năng số thấp hoặc sống ở địa bàn kết nối hạn chế. DOANH NHÂN VIỆT NAM - KIẾN TẠO THỊNH VƯỢNG, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC TỔ CHỨC NHÀ NƯỚC Lãnh đạo phường Long Biên, thành phố Hà Nội trao thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc sau 01 năm triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn. Sai lệch dữ liệu, yêu cầu xác thực phức tạp, thiếu kênh hỗ trợ và rủi ro lộ lọt thông tin có thể làm hao hụt niềm tin. Bao trùm số vì vậy, phải được thiết kế ngay từ đầu, không phải biện pháp khắc phục sau khi nền tảng đã vận hành. Thứ sáu, năng lực của đội ngũ chưa đồng đều với yêu cầu mới. Công chức có thể nắm chắc quy định nhưng thiếu kỹ năng phân tích vấn đề phức hợp, thiết kế dịch vụ theo hành trình người dùng, làm việc với dữ liệu, điều phối mạng lưới hoặc đánh giá tác động. Tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm làm giảm không gian thử nghiệm có kiểm soát. Khi cơ chế quản trị nhân lực chủ yếu tưởng thưởng sự an toàn về thủ tục, động lực tạo thêm giá trị bị suy giảm.
Khuyến nghị nâng cao năng lực kiến tạo giá trị công
Thể chế hóa lăng kính giá trị công trong chu trình chính sách

Mỗi đề xuất chính sách, chương trình mục tiêu, dự án đầu tư công và phương án cải cách dịch vụ cần có “tuyên bố giá trị công” ngắn gọn, trả lời tối thiểu năm câu hỏi: vấn đề thực chất nào của xã hội cần giải quyết; giá trị nào được ưu tiên và căn cứ là gì; ai được hưởng lợi, ai có thể chịu chi phí hoặc bị bỏ lại và được hỗ trợ bằng cách nào; hệ thống cần năng lực và sự ủng hộ nào để thực hiện; đo giá trị, kết quả cốt lõi và duy trì giá trị bằng cách nào. Tuyên bố này phải đi cùng hồ sơ đánh giá tác động, kế hoạch thực thi và dự toán, tránh hình thức, không khả thi. Đối với chính sách có xung đột giá trị lớn, cần công khai các phương án và đánh đổi. Ví dụ, miễn hoặc hỗ trợ chi phí dịch vụ phải được phân tích đồng thời về công bằng, chất lượng, tính bền vững tài khóa và hành vi phát sinh. Chính sách số phải đánh giá tác động đến quyền riêng tư, nhóm ít kỹ năng và khả năng sử dụng kênh thay thế. Cách làm này đưa lựa chọn giá trị ra khỏi vùng “mặc định kỹ thuật” và đặt nó vào đúng không gian trách nhiệm chính trị, pháp lý và xã hội

Lãnh đạo phường Long Biên, thành phố Hà Nội trao thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc sau 01 năm triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn.

Lãnh đạo phường Long Biên, thành phố Hà Nội trao thưởng cho các tập thể, cá nhân có thành tích xuất sắc sau 01 năm triển khai vận hành bộ máy của hệ thống chính trị và chính quyền địa phương 02 cấp trên địa bàn.

Đổi mới hệ thống đo lường từ đầu ra sang giá trị công Cần xây dựng khung đo lường gồm năm nhóm: (1) kết quả thực chất đối với vấn đề công; (2) công bằng và mức độ bao trùm; (3) trải nghiệm, thời gian và chi phí tuân thủ của người dân, doanh nghiệp; (4) tính chính đáng, minh bạch, niềm tin và trách nhiệm giải trình; (5) bền vững, khả năng chống chịu và tác động dài hạn. Dữ liệu phải được phân tách theo địa bàn, giới, tuổi, mức thu nhập, tình trạng khuyết tật và các nhóm liên quan để điểm trung bình không che khuất bất bình đẳng. Không nên dồn mọi chiều cạnh vào một chỉ số tổng hợp duy nhất. Bảng điều hành giá trị công cần thể hiện cả kết quả, chi phí, phân phối và tín hiệu cảnh báo.
PAR Index, SIPAS và dữ liệu Cổng Dịch vụ công quốc gia nên được kết nối với khảo sát theo hành trình dịch vụ, phản ánh hiện trường và đánh giá độc lập. Đối với các chương trình như xóa nhà tạm, nhà dột nát hoặc xây trường học vùng biên, đánh giá sau đầu tư cần tiếp tục theo dõi sinh kế, chất lượng học tập, khả năng tiếp cận và mức độ duy trì giá trị. Tổ chức thực thi theo sứ mệnh và kết quả liên ngành Với các vấn đề phức hợp, cần hình thành cơ chế điều phối theo sứ mệnh, có người chịu trách nhiệm về kết quả cuối cùng, mục tiêu chung, dữ liệu dùng chung và quyền xử lý điểm nghẽn. Ngân sách, kế hoạch và đánh giá phải khuyến khích kết quả liên ngành thay vì tối ưu từng “khúc” công việc. Cấp xã cần được bảo đảm thẩm quyền, nhân lực, hạ tầng và hướng dẫn thực thi tương xứng với vai trò tuyến gần dân; đồng thời có cơ chế hỗ trợ chuyên môn nhanh từ cấp tỉnh. Mỗi dịch vụ thiết yếu nên được thiết kế theo trải nghiệm, hành trình đầy đủ của người sử dụng.

Trách nhiệm của cơ quan công quyền không kết thúc khi hồ sơ được chuyển hoặc kết quả được phát hành, mà khi vấn đề hợp pháp, chính đáng của người dân được giải quyết và có thể kiểm chứng. Các điểm nghẽn lặp lại phải trở thành đầu vào sửa quy trình, sửa quy định và phân bổ lại nguồn lực. Phát triển khung năng lực kiến tạo giá trị công cho cán bộ, công chức Sáu năng lực đã nêu cần được cụ thể hóa theo vị trí việc làm. Lãnh đạo, quản lý cần năng lực xác định ưu tiên giá trị, xử lý đánh đổi, điều phối mạng lưới và chịu trách nhiệm về kết quả. Công chức tham mưu cần năng lực phân tích dữ liệu, đánh giá tác động, thiết kế chính sách và dự báo rủi ro.

Công chức trực tiếp phục vụ cần năng lực thấu hiểu hành trình người dùng, giao tiếp đa kênh, hỗ trợ nhóm yếu thế và chuyển phản hồi thành cải tiến. Đào tạo, bồi dưỡng nên chuyển mạnh sang học qua tình huống, dự án và vấn đề thực tiễn. Kết quả học tập phải thể hiện bằng một quy trình được cải tiến, một chi phí được cắt giảm, một nhóm bị bỏ sót được tiếp cận hoặc một rủi ro được kiểm soát. Đánh giá cán bộ, công chức cần kết hợp tuân thủ, kết quả, phản hồi xã hội, năng lực phối hợp và sáng kiến cải tiến; không sử dụng sự hài lòng đơn lẻ cho những vị trí phải thực hiện quyết định khó nhưng đúng pháp luật và bảo vệ lợi ích dài hạn.

Hue-S, dưới sự quản lý của Trung tâm IOC, đóng vai trò là cầu nối mở rộng kết nối giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp Hue-S, dưới sự quản lý của Trung tâm IOC, đóng vai trò là cầu nối mở rộng kết nối giữa chính quyền, người dân và doanh nghiệp

Biến đồng kiến tạo thành thiết kế thường xuyên của quản trị phát triển
Cần thể chế hóa sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, chuyên gia và tổ chức xã hội ở ba thời điểm: cùng xác định vấn đề; cùng thử nghiệm và hoàn thiện giải pháp; cùng giám sát, đánh giá kết quả. Cơ quan chủ trì cần phải công khai phản hồi đối với ý kiến tham vấn, nhất là lý do không lựa chọn một phương án. Với các chính sách tác động mạnh đến nhóm yếu thế, cần chủ động tìm đến nhóm ít có khả năng tham gia thay vì chờ họ lên tiếng.
Các nền tảng như Hue-S cho thấy, một phản ánh chỉ tạo giá trị khi được gắn với thời hạn, đơn vị chịu trách nhiệm, trạng thái xử lý, bằng chứng hoàn thành và cơ chế đánh giá lại. Mô hình này có thể phát triển từ xử lý vụ việc sang nhận diện mẫu vấn đề, dự báo điểm nóng và đồng thiết kế giải pháp phòng ngừa. Dữ liệu do người dân tạo ra phải được quản trị minh bạch, bảo vệ thông tin cá nhân và ngăn chặn việc lợi dụng nền tảng để vi phạm, gây thiệt hại.
Bảo đảm bao trùm số và quản trị dữ liệu có trách nhiệm
Nguyên tắc “số trước” không được biến thành “chỉ có số”. Dịch vụ công cần duy trì đa kênh và có hỗ trợ số tại chỗ, qua bưu chính, tổ công nghệ số cộng đồng hoặc điểm dịch vụ lưu động để bảo đảm nguyên tắc “người dân ở đâu, dịch vụ công vươn xa tới đó”, không phải là “cơ quan nhà nước ở đâu, dịch vụ công được cung cấp ở đó”. Thiết kế phải đáp ứng nhu cầu chính đáng của người khuyết tật, người cao tuổi, người dân tộc thiểu số và người có thiết bị điện tử cấu hình thấp... Chỉ tiêu quan trọng không phải có bao nhiêu người nộp hồ sơ trực tuyến, mà bao nhiêu người hoàn thành dịch vụ thuận lợi, sự trải nghiệm an toàn, thân thiện, tiện lợi, dễ sử dụng và không phải cung cấp lại dữ liệu Nhà nước đã có.
Đối với dữ liệu và AI trong khu vực công, cần xác định rõ mục đích sử dụng, chất lượng dữ liệu, quyền truy cập, trách nhiệm khi sai, khả năng giải thích và cơ chế khiếu nại. Các hệ thống tác động đến quyền lợi thiết yếu phải có đánh giá rủi ro thuật toán, giám sát của con người và kiểm toán định kỳ. Niềm tin số là một giá trị công và cũng là điều kiện để tạo ra các giá trị khác.
Xây dựng môi trường đổi mới có kiểm soát và trách nhiệm đến cùng
Kiến tạo giá trị đòi hỏi sáng kiến, nhưng sáng kiến công phải nằm trong khuôn khổ pháp luật, đạo đức và trách nhiệm giải trình. Cần cụ thể hóa cơ chế thử nghiệm có giới hạn về phạm vi, thời gian, đối tượng, tiêu chí dừng và phương án bảo vệ người bị tác động. Cán bộ dám làm vì lợi ích công, có động cơ trong sáng, tuân thủ quy trình thử nghiệm và minh bạch rủi ro cần được bảo vệ; ngược lại, không dùng khẩu hiệu đổi mới để hợp thức hóa tùy tiện hoặc lợi ích nhóm.
Lãnh đạo cơ quan đơn vị cần phải chịu trách nhiệm tạo lập, xây dựng và phát triển môi trường văn hóa công vụ khuyến khích đổi mới, sáng tạo, tôn trọng và ghi nhận sáng kiến để đội ngũ phát hiện vấn đề, đề xuất cải tiến, chia sẻ sai sót và học hỏi. Khen thưởng cần dựa vào tác động được kiểm chứng và khả năng nhân rộng, không dựa chủ yếu vào số lượng sáng kiến đăng ký. Qua đó, năng lực kiến tạo giá trị công trở thành thuộc tính của tổ chức chứ không phụ thuộc vào nỗ lực cá nhân đơn lẻ.

Kết Luận
Giá trị công không phải là phát kiến mới cho mọi kết quả tích cực của Nhà nước. Đó là chuẩn mực buộc hoạt động công quyền cần phải chứng minh đồng thời giá trị thực chất, tính chính đáng, công bằng phân phối, năng lực thực thi hiệu quả và khả năng duy trì những kết quả và chuẩn mực giá trị chung. Trong điều kiện ở Việt Nam, kiến tạo giá trị công gắn với vai trò lãnh đạo của Đảng, trách nhiệm quản lý, quản trị và phục vụ của Nhà nước, quyền làm chủ của Nhân dân và khả năng huy động sức mạnh toàn xã hội. Thực tiễn giai đoạn 2020 - 2026 cho thấy, Việt Nam có năng lực huy động mạnh, nhiều chính sách giàu tính nhân văn và những mô hình số có khả năng mở rộng sự tham gia. Khoảng trống nằm ở việc chuyển những ưu tiên đó thành một hệ thống quản trị thường xuyên, nhất quán: thiết kế chính sách từ nhu cầu và quyền của người dân; tổ chức thực thi liên ngành; đo giá trị, kết quả cốt lõi; bảo đảm nhóm yếu thế không bị bỏ lại; học hỏi từ dữ liệu và phản hồi. Khi giá trị công trở thành một phần của chiến lược, chính sách, ngân sách, đánh giá và trách nhiệm giải trình, nền công vụ chuyển vững chắc từ hoàn thành nhiệm vụ sang giải quyết vấn đề thực tiễn, từ cung ứng dịch vụ sang kiến tạo, cải thiện điều kiện sống và phát triển tốt hơn cho Nhân dân.

Các chính sách, pháp luật tập trung vào kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng. 31 DOANH NHÂN VIỆT NAM - KIẾN TẠO THỊN Các chính sách, pháp luật tập trung vào kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng. 31 DOANH NHÂN VIỆT NAM - KIẾN TẠO THỊN

Tài liệu tham khảo:


1. Alford, J., & O'Flynn, J (2009), Making sense of public value: Concepts, critiques and emergent meanings. International Journal of Public Administration, 32(3-4), 171-191. https://doi.org/10.1080/01900690902732731
2. Benington, J., & Moore, M. H. (Eds.) (2011), Public value: Theory and practice. Palgrave Macmillan.
3. Bộ Chính trị (2024), Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
4. Bộ Chính trị (2025), Nghị quyết số 72-NQ/TW ngày 09/9/2025 về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân.
5. Bộ Nội vụ (2026), Hải Phòng tiếp tục đứng đầu bảng xếp hạng về PAR Index và SIPAS năm 2025. https://moha.gov.vn/tin-tuc/hai-phong-tiep-tuc-dung-daubang-xep-hang-ve-par-index-va-sipas-nam-2025---id19462
6. Bozeman, B (2002), Public-value failure: When efficient markets may not do.
Public Administration Review, 62(2), 145-161. https://doi.org/10.1111/0033-3352.001657. Bryson, J. M., Crosby, B. C., & Bloomberg, L. L (2014), Public value governance:
Moving beyond traditional public administration and the New Public Management.
Public Administration Review, 74(4), 445-456. https://doi.org/10.1111/puar.12238
8. Chính phủ (2025), Nghị định số 238/2025/NĐ-CP ngày 03/9/2025 quy định về chính sách học phí, miễn, giảm, hỗ trợ học phí, hỗ trợ chi phí học tập và giá dịch vụ trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo.
9. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2025), Hội nghị tổng kết chương trình và phong trào thi đua xóa nhà tạm, nhà dột nát. https://baochinhphu.vn/truc-tiephoi-nghi-tong-ket-chuong-trinh-va-phong-trao-thi-dua-xoa-nha-tam-nha-dotnat-102250826083117352.htm
10. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ (2026), Xây trường học cho các xã biên giới: Bảo đảm tiến độ, chất lượng; tuyệt đối không để thất thoát, lãng phí. https://baochinhphu.vn/xay-truong-hoc-cho-cac-xa-bien-gioi-bao-dam-tien-do-chatluong-tuyet-doi-khong-de-that-thoat-lang-phi-102260619123037373.htm
11. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật.
12. Meynhardt, T (2009),
Public value inside: What is public value creation? International Journal of Public Administration, 32(3-4), 192-219. https://doi.org/10.1080/01900690902732632
13. Moore, M. H (1995), C
reating public value: Strategic management in government. Harvard University Press.
14. OECD (2019),
Public value in public service transformation: Working with change. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/47c17892-en
15. Osborne, S. P (2018),
From public service-dominant logic to public service logic: Are public service organizations capable of co-production and value co-creation?
Public Management Review,
20(2), 225-231. https://doi.org/10.1080/14719037.2017.1350461
16. Ostrom, E (1996),
Crossing the great divide: Coproduction, synergy, and development. World Development, 24(6), 1073-1087. https://doi.org/10.1016/0305-750X(96)00023-X
17. Quốc hội (2025),
Nghị quyết số 217/2025/QH15 ngày 26/6/2025 về miễn, hỗ trợ học phí đối với trẻ em mầm non, học sinh phổ thông, người học chương trình giáo dục phổ thông trong cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.
18. Quốc hội (2025), Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15 ngày 16/6/2025.
19. Stoker, G (2006), Public value management: A new narrative for networked governance? The American Review of Public Administration, 36(1), 41-57.
20. Ủy ban nhân dân thành phố Huế (2026),
Phát triển đô thị thông minh tại thành phố Huế: Từ thành phố kết nối đến điều hành bằng dữ liệu số. https://hue.gov.vn/Chuyen-trang/Chuyen-trang-cai-cach-hanh-chinh/Chi-tiet/tb/Phattrien-do-thi-thong-minh-tai-thanh-pho-Hue-Tu-thanh-pho-ket-noi-den-dieuhanh-bang-du-lieu-so-356893
21. United Nations Department of Economic and Social Affairs (2024),
United Nations e-government survey 2024: Accelerating digital transformation for sustainable development. United Nations. https://desapublications.un.org/publications/un-e-government-survey-2024
22. World Health Organization (2020, July 30),
Viet Nam COVID-19 situation report https://www.who.int/docs/default-source/wpro---documents/countries/viet-nam/covid-19/vnm-moh-who-covid-19-sitrep2.pdf?sfvrsn=c0b0be99_2
23. World Health Organization (2022a, November 21),
It's not over yet: COVID-19 vaccines, boosters and children. https://www.who.int/vietnam/news/detail/21-11-2022-it-s-not-over-yet---covid-19-vaccines--boosters-and-children
24. World Health Organization (2022b, June 28),
Reaching the unreached with COVID-19 vaccination across the Western Pacific Region. https://www.who.int/westernpacific/newsroom/feature-stories/item/reaching-the-unreached-withcovid-19-vaccination-across-the-western-pacific-region.
 

Trang chủ