← E-Magazine

E-MAGAZINE · VINH QUANG VIỆT NAM

15/10/2026 1 phút đọc

TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
THS. TRẦN THỊ THỦY
Trường Đại học Thủ Dầu Một

 

Bài viết làm rõ hơn tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa trong quá trình phát triển đất nước thời kỳ mới; đồng thời đánh giá thực trạng nguồn nhân lực văn hóa hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong lĩnh vực này, góp phần phát triển văn hóa trở thành động lực nội sinh, thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước trong kỷ nguyên mới.

Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQTW và Nghị quyết số 80-NQTW của Bộ Chính trị, ngày 25/02/2026. Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết số 79-NQTW và Nghị quyết số 80-NQTW của Bộ Chính trị, ngày 25/02/2026.

Ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Một là, góp phần xây dựng và phát huy sức mạnh mềm quốc gia.

Nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao giữ vai trò nòng cốt trong việc sáng tạo, bảo tồn và lan tỏa các giá trị văn hóa dân tộc, qua đó trực tiếp hình thành và củng cố sức mạnh mềm của quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa. Sức mạnh mềm không chỉ được biểu hiện qua di sản, nghệ thuật hay ngôn ngữ, mà còn nằm ở năng lực sáng tạo, khả năng kể câu chuyện dân tộc và truyền tải những giá trị nhân văn đến cộng đồng quốc tế. Một đội ngũ nhân lực văn hóa được đào tạo bài bản, có tư duy đổi mới và khả năng hội nhập sẽ giúp chuyển hóa các giá trị văn hóa truyền thống thành nguồn lực phát triển, đồng thời nâng cao hình ảnh, uy tín và vị thế quốc gia trên trường quốc tế. Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, vai trò của nguồn nhân lực văn hóa càng được mở rộng sang các lĩnh vực mới như: công nghiệp văn hóa, truyền thông số, sáng tạo nội dung và kinh tế sáng tạo. Những lĩnh vực này không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn góp phần định hình nhận thức, thị hiếu và xu hướng văn hóa của xã hội. Do đó, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa sẽ giúp tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia trên “mặt trận mềm”, nơi mà giá trị văn hóa, ý tưởng sáng tạo và sức hấp dẫn xã hội trở thành yếu tố quyết định.
Hai là, tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao là một trong những yếu tố then chốt góp phần chuyển hóa tiềm năng văn hóa thành nguồn lực kinh tế, đặc biệt trong bối cảnh phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo. Khi được đào tạo bài bản, có năng lực chuyên môn, tư duy đổi mới và khả năng ứng dụng công nghệ, đội ngũ này không chỉ tham gia sáng tạo các sản phẩm, dịch vụ văn hóa có giá trị gia tăng cao mà còn góp phần mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện hiệu quả Chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển văn hóa… Phát triển mạnh công nghiệp văn hóa, dịch vụ văn hóa đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.98). Hơn nữa, nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao còn góp phần lan tỏa các giá trị nhân văn, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh, từ đó tạo nền tảng tinh thần vững chắc cho phát triển bền vững.
Ba là, góp phần định hướng và nâng cao đời sống tinh thần của xã hội.
Nguồn nhân lực văn hóa chất lượng cao giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng giá trị, thị hiếu thẩm mỹ và xây dựng đời sống tinh thần lành mạnh cho xã hội. Thông qua hoạt động sáng tạo, biểu đạt và truyền tải các sản phẩm văn hóa, đội ngũ này tác động trực tiếp đến nhận thức, cảm xúc và hành vi của con người, góp phần hình thành hệ giá trị, chuẩn mực đạo đức và lối sống phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam nhấn mạnh: “kết hợp nhuần nhuyễn giữa giá trị truyền thống với giá trị hiện đại, dân tộc với quốc tế, góp phần quan trọng phát triển toàn diện con người, đạo đức xã hội và phẩm cách quốc gia trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2026). Điều này cho thấy, nguồn nhân lực văn hóa không chỉ là chủ thể sáng tạo mà còn là lực lượng nòng cốt trong việc giáo dục, định hướng và lan tỏa các giá trị tích cực trong xã hội.

Thực trạng chất lượng nguồn nhân lực văn hóa Việt Nam
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, chất lượng nguồn nhân lực văn hóa ở nước ta có nhiều chuyển biến tích cực, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong bối cảnh hội nhập quốc tế và chuyển đổi số. Các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước đã khẳng định rõ vị trí trung tâm của con người trong chiến lược phát triển, coi văn hóa là nền tảng tinh thần, là mục tiêu và động lực của sự phát triển bền vững. Hệ thống chính sách, pháp luật và chiến lược phát triển nguồn nhân lực văn hóa từng bước được hoàn thiện, tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa. Nhiều chương trình, đề án, chiến lược liên quan đến phát triển văn hóa và con người đã được ban hành và triển khai đồng bộ, tiêu biểu như: Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa đến năm 2030, các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, xây dựng nông thôn mới gắn với đời sống văn hóa cơ sở.
Những chính sách này không chỉ chú trọng đến đào tạo nguồn nhân lực chuyên sâu trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật mà còn quan tâm đến việc phát triển đội ngũ cán bộ quản lý văn hóa, truyền thông. Hệ thống cơ sở đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn hóa ngày càng được củng cố và phát triển cả về quy mô và chất lượng. Các trường đại học, học viện, cơ sở đào tạo chuyên ngành văn hóa nghệ thuật không ngừng đổi mới chương trình, nội dung và phương pháp giảng dạy theo hướng tiếp cận chuẩn quốc tế, gắn lý luận với thực tiễn. Đội ngũ giảng viên, nghệ sĩ, chuyên gia đầu ngành từng bước được nâng cao trình độ chuyên môn, có khả năng tham gia vào các hoạt động hợp tác quốc tế, trao đổi học thuật và sáng tạo nghệ thuật.
Các hình thức đào tạo ngoài công lập, đào tạo ngắn hạn, bồi dưỡng kỹ năng cũng phát triển đa dạng, góp phần đáp ứng nhu cầu học tập suốt đời và nâng cao năng lực nghề nghiệp cho nguồn nhân lực văn hóa. Chất lượng đội ngũ nhân lực văn hóa từng bước được cải thiện, nhiều văn nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung, cán bộ quản lý văn hóa đã khẳng định được vị trí và uy tín không chỉ trong nước mà còn trên trường quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam. Đặc biệt, trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một bộ phận nguồn nhân lực văn hóa đã nhanh chóng tiếp cận và ứng dụng công nghệ số trong sáng tạo, sản xuất và phân phối sản phẩm văn hóa, mở ra những phương thức biểu đạt mới và nâng cao hiệu quả lan tỏa các giá trị văn hóa. 

Lễ hội truyền thống Di tích quốc gia đặc biệt đền Bạch Mã năm 2026. Lễ hội truyền thống Di tích quốc gia đặc biệt đền Bạch Mã năm 2026.

Bên cạnh kết quả đạt được, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa vẫn còn một số hạn chế: chất lượng đội ngũ chưa đồng đều, còn khoảng cách khá lớn giữa các vùng, miền và giữa các lĩnh vực chuyên môn; tư duy đổi mới và khả năng thích ứng với môi trường số, chưa theo kịp yêu cầu của công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo trong bối cảnh mới.
Công tác đào tạo, bồi dưỡng vẫn còn những bất cập, chậm đổi mới về nội dung và phương pháp, chưa gắn chặt với nhu cầu thực tiễn và thị trường lao động. Cơ chế, chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ làm công tác văn hóa chưa thực sự tương xứng, chưa tạo được động lực mạnh mẽ để thu hút và giữ chân nhân tài, nhất là trong các lĩnh vực sáng tạo có tính cạnh tranh cao. Nghị quyết số 80-NQ/TW đánh giá: “Môi trường văn hóa chưa thật sự lành mạnh, đạo đức xã hội còn biểu hiện xuống cấp, mất bản sắc.
Đầu tư cho văn hóa còn thấp và dàn trải… Nguồn nhân lực văn hóa tồn tại nhiều bất cập. Cơ chế, chính sách chưa phát huy đầy đủ, sáng tạo của các chủ thể, đặc biệt là đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ” (Bộ Chính trị, 2026).

Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10-10-1954 - 10-10-2024) và 25 năm Hà Nội được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" UBND TP Hà Nội đã tổ chức Chương trình "Ngày hội văn hóa vì hòa bình". Nhân dịp kỷ niệm 70 năm Ngày Giải phóng Thủ đô (10-10-1954 - 10-10-2024) và 25 năm Hà Nội được UNESCO trao danh hiệu "Thành phố vì hòa bình" UBND TP Hà Nội đã tổ chức Chương trình "Ngày hội văn hóa vì hòa bình".

Đêm khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội, lần thứ II, năm 2026 được dàn dựng kết hợp nhiều công nghệ hiện đại, kết nối ký ức và hiện tại, ngày 11/9/2026. Đêm khai mạc Festival Thăng Long - Hà Nội, lần thứ II, năm 2026 được dàn dựng kết hợp nhiều công nghệ hiện đại, kết nối ký ức và hiện tại, ngày 11/9/2026.

Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới
Một là, đổi mới căn bản, toàn diện công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực văn hóa.
Tiếp tục rà soát, điều chỉnh và hiện đại hóa chương trình đào tạo, bồi dưỡng theo hướng tiếp cận liên ngành, gắn kết chặt chẽ giữa lý luận với thực tiễn, giữa đào tạo, bồi dưỡng trong nhà trường với nhu cầu của thị trường lao động và các ngành công nghiệp văn hóa. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng không chỉ dừng ở kiến thức chuyên môn truyền thống mà cần tích hợp các kỹ năng mới như tư duy sáng tạo, năng lực số, quản trị văn hóa, truyền thông đa nền tảng và khả năng hội nhập quốc tế. Phương pháp đào tạo, bồi dưỡng phải đổi mới theo hướng lấy người học làm trung tâm, phát huy tính chủ động, sáng tạo và năng lực tự học.
Tăng cường các hình thức đào tạo, bồi dưỡng thực hành, trải nghiệm, học qua dự án, kết nối với các thiết chế văn hóa, doanh nghiệp sáng tạo để người học có cơ hội cọ xát thực tiễn ngay từ quá trình đào tạo, bồi dưỡng. Đồng thời, chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên, nghệ sĩ, chuyên gia đầu ngành cả về trình độ chuyên môn cho đến năng lực sư phạm và khả năng ứng dụng công nghệ mới, qua đó nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng một cách bền vững.
Đẩy mạnh liên kết giữa cơ sở đào tạo với các tổ chức, doanh nghiệp trong lĩnh vực văn hóa nhằm xây dựng hệ sinh thái đào tạo - sáng tạo - sản xuất - phân phối sản phẩm văn hóa...
Hai là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút, sử dụng và đãi ngộ nguồn nhân lực văn hóa.
Cần xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ, có tính đặc thù đối với lĩnh vực văn hóa, bảo đảm ghi nhận đúng giá trị lao động sáng tạo vốn mang tính đặc biệt, khó định lượng và có độ trễ trong hiệu quả. Có cơ chế phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài trong lĩnh vực văn hóa, đặc biệt là nhân lực trẻ, nhân lực có khả năng sáng tạo và thích ứng nhanh với công nghệ mới. Việc xây dựng các quỹ hỗ trợ sáng tạo, chương trình ươm mầm tài năng, tạo điều kiện cho các cá nhân có năng lực được tham gia các dự án lớn, các hoạt động giao lưu quốc tế sẽ góp phần hình thành đội ngũ nhân lực văn hóa chất lượng cao. Đồng thời, cần khắc phục tình trạng “chảy máu chất xám” bằng cách tạo môi trường làm việc thuận lợi, minh bạch, có cơ hội phát triển nghề nghiệp rõ ràng và được ghi nhận xứng đáng. Nghị quyết số 80-NQ/TW chỉ rõ: “Thể chế hóa đầy đủ, đồng bộ và tổ chức thực hiện hiệu quả các chủ trương, đường lối của Đảng về văn hóa. Tập trung xây dựng các luật về hoạt động nghệ thuật, văn học, bản quyền tác giả, công nghiệp văn hóa… theo hướng kiến tạo, khơi thông nguồn lực cho phát triển văn hóa” (Bộ Chính trị, 2025).

Chương trình "Tổ quốc trong tim" được dàn dựng như một bản trường ca lịch sử, kết hợp âm nhạc và hình ảnh để tái hiện sinh động hành trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chương trình "Tổ quốc trong tim" được dàn dựng như một bản trường ca lịch sử, kết hợp âm nhạc và hình ảnh để tái hiện sinh động hành trình đấu tranh giành độc lập, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Ba là, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa.

Đảng ta đã chỉ rõ cần phải: “Ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong số hoá di sản, trong trưng bày, biểu diễn, giáo dục; xây dựng thiết chế văn hóa số, bảo tàng mở, nhà hát di động, thư viện số thân thiện với mọi lứa tuổi” (Tô Lâm, 2025; https://www. bqdnd.vn). Với tinh thần đó, cần xây dựng và hoàn thiện hạ tầng số trong lĩnh vực văn hóa, bao gồm hệ thống dữ liệu, nền tảng số và các công cụ hỗ trợ sáng tạo, lưu trữ, phân phối sản phẩm văn hóa.
Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho đội ngũ nhân lực văn hóa, từ cán bộ quản lý, nghệ sĩ, nhà sáng tạo nội dung đến những người làm công tác bảo tồn, phát huy di sản. Qua đó giúp đội ngũ này không chỉ thích ứng mà còn chủ động sáng tạo trong môi trường số hóa, nơi mà ranh giới giữa các lĩnh vực văn hóa, công nghệ, kinh tế ngày càng bị xóa nhòa.Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp văn hóa trên nền tảng công nghệ số, như: điện ảnh, âm nhạc, xuất bản, trò chơi điện tử, thiết kế sáng tạo và truyền thông số. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng lớn trong việc tạo ra giá trị gia tăng cao và đóng góp vào tăng trưởng kinh tế.
Tăng cường cơ chế, chính sách hỗ trợ việc ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực văn hóa, bao gồm hỗ trợ tài chính, khuyến khích đổi mới sáng tạo, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và xây dựng môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động sáng tạo trên không gian mạng. Đồng thời, đẩy mạnh hợp tác giữa các ngành văn hóa, khoa học - công nghệ và doanh nghiệp nhằm hình thành hệ sinh thái sáng tạo số, tạo điều kiện để nguồn nhân lực văn hóa phát huy tối đa năng lực.

Bốn là, tăng cường hợp tác quốc tế và giao lưu văn hóa trong phát triển nguồn nhân lực văn hóa.
Đẩy mạnh việc thiết lập và mở rộng các chương trình hợp tác với các quốc gia, tổ chức quốc tế, các trung tâm văn hóa, nghệ thuật lớn trên thế giới trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng và phát triển nhân lực. Thông qua các chương trình trao đổi sinh viên, học giả, nghệ sĩ, cũng như các dự án hợp tác nghiên cứu và sáng tạo, nguồn nhân lực văn hóa Việt Nam có cơ hội tiếp cận với Tài liệu tham khảo: 1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam. 2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.98. 3. Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Văn hóa, https://www.bqdnd.vn, ngày 23/8/2025. tri thức tiên tiến, phương pháp đào tạo hiện đại và xu hướng phát triển mới của thế giới. Tham gia các sự kiện văn hóa quốc tế như: liên hoan nghệ thuật, triển lãm, hội thảo khoa học không chỉ giúp quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, mà còn tạo môi trường thực tiễn để đội ngũ nhân lực văn hóa học hỏi, nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực hội nhập. Đây là kênh quan trọng để tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời khẳng định bản sắc văn hóa dân tộc trong dòng chảy toàn cầu.
Chú trọng chuyển giao tri thức, công nghệ và kinh nghiệm quản lý trong lĩnh vực văn hóa từ các quốc gia có nền công nghiệp văn hóa phát triển. Đồng thời, khuyến khích các doanh nghiệp, tổ chức văn hóa trong nước liên kết với đối tác nước ngoài để hình thành các dự án sáng tạo chung, qua đó tạo môi trường làm việc quốc tế hóa cho đội ngũ nhân lực. Xây dựng cơ chế, chính sách thuận lợi để thu hút chuyên gia, trí thức, nghệ sĩ nước ngoài tham gia hoạt động đào tạo, sáng tạo và tư vấn phát triển văn hóa tại Việt Nam; phát huy vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài như một cầu nối trong giao lưu văn hóa và phát triển nguồn nhân lực; từ đó, góp phần xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc trong kỷ nguyên mới

Tài liệu tham khảo:
1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.98.
3. Toàn văn bài phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Lễ kỷ niệm 80 năm ngày truyền thống ngành Văn hóa,
https://www.bqdnd.vn, ngày 23/8/2025.