← E-Magazine

E-MAGAZINE · VINH QUANG VIỆT NAM

Bìa

15/10/2026 1 phút đọc

Chính sách đối ngoại là tổng thể chủ trương, chiến lược, sách lược, quyết định và những biện pháp do Nhà nước hoạch định và thực thi trong quan hệ với các chủ thể khác nhau trên trường quốc tế, trong từng thời kỳ lịch sử, trên cơ sở lợi ích quốc gia - dân tộc, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình thế giới và luật pháp quốc tế; là cánh tay nối dài của công tác đối nội, đồng thời là sự phản ứng của quốc gia trước những thay đổi của tình hình quốc tế. Vai trò của công tác đối ngoại được thể hiện ở ba khía cạnh là an ninh, phát triển và vị thế đối với mỗi quốc gia. Bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề về cơ sở xác định mục tiêu, định hướng và giải pháp để thực hiện nhiệm vụ phát triển đối ngoại Việt Nam tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước.

TS. ĐINH NGỌC RUẪN - Học viện Chính trị khu vực I
Đặt vấn đề
Nhiệm vụ phát triển đối ngoại của Việt Nam trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được coi là bước đột phá trong tư duy lý luận của Đảng ta, vừa phản ánh tính kế thừa, đồng thời cũng là sự điều chỉnh tất yếu, phù hợp với khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên vươn mình. Trong bài viết “Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc” đăng trên Tạp chí Cộng sản số 1050 (tháng 11/2024), Tổng Bí thư Tô Lâm nhận định: “Kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam, đó là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh, dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản, xây dựng thành công nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa... Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu” (Tô Lâm, 2024). Định hướng chiến lược trên đặt ra yêu cầu cao hơn cho các lĩnh vực, trong đó có công tác đối ngoại. Bởi vậy, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định “phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng with tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.117). Trong công cuộc đổi mới, vươn mình của dân tộc Việt Nam, khi mà cạnh tranh chiến lược toàn cầu diễn ra gay gắt, đối ngoại không chỉ là mở cửa, hội nhập, mà còn là tuyến đầu trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, đồng thời, cho phép huy động các nguồn lực từ quốc tế, kết hợp sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, nâng cao vị thế của quốc gia trong trường quốc tế, đóng góp cho nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu và nền văn minh nhân loại.
Cơ sở khoa học của chính sách đối ngoại trong kỷ nguyên mới
Đồng hành cùng lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như xây dựng đất nước. Thời kỳ phong kiến, cha ông ta đã vận dụng sách lược ngoại giao một cách khéo léo, linh hoạt để vừa đảm bảo độc lập, chủ quyền quốc gia, chủ động ngăn chặn chiến tranh hoặc sớm kết thúc chiến tranh trong vị thế có lợi nhất, vừa giữ được hòa khí, thể diện của thế lực bên ngoài. Từ cách thức ứng xử đó đã góp phần hình thành nên truyền thống văn hóa vì hòa bình, hòa hiếu, hữu nghị, khoan dung của dân tộc Việt Nam.
Trên cơ sở vận dụng sáng tạo những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin, kế thừa và phát huy truyền thống, bản sắc đối ngoại, ngoại giao và văn hóa của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa của nhân loại, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt nền móng, trực tiếp chỉ đạo và dẫn dắt sự phát triển của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Trong những buổi đầu nhà nước cách mạng non trẻ, đối mặt với muôn vàn khó khăn, thử thách, dưới sự lãnh đạo của Đảng và thấm nhuần tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đồng hành cùng các lực lượng, đóng góp quan trọng trong các cuộc đàm phán nhằm tạo ra các giai đoạn trì hoãn chiến lược (Hiệp định sơ bộ (6/3) và Tạm ước 14/9) để kéo dài thời gian tranh thủ xây dựng lực lượng cho cuộc kháng chiến (Phạm Lan Dung - Từ Anh Tuấn, 2024).

Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tuyên bố chung tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva, tháng 11/1960 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Tuyên bố chung tại Hội nghị 81 Đảng Cộng sản và Công nhân quốc tế họp ở Mátxcơva, tháng 11/1960

Toàn cảnh lễ ký Định ước quốc tế tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Trung tâm các hội nghị quốc tế Kléber, Paris ngày 02/3/1973. Toàn cảnh lễ ký Định ước quốc tế tại Hội nghị quốc tế về Việt Nam ở Trung tâm các hội nghị quốc tế Kléber, Paris ngày 02/3/1973.

Trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, phối hợp với mặt trận quân sự, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã từng bước trưởng thành qua đấu tranh trên bàn đàm phán, để đi tới kí kết Hiệp định Giơnevơ năm 1954, kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tiếp đó là Hiệp định Pari năm 1973, buộc đế quốc Mỹ phải chấp nhận rút quân về nước, tạo cơ sở cho cuộc đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước vào ngày 30/4/1975.
Từ thời kỳ đổi mới, đối ngoại, ngoại giao Việt Nam đã mở đường cho cuộc đấu tranh chống bao vây, cấm vận, góp phần giữ vững môi trường an ninh hòa bình, ổn định, tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế và nâng tầm vị thế đất nước. Tính đến thời điểm năm 2023, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt khoảng 430 tỷ USD, đứng thứ 35 thế giới, tăng hơn 95 lần so với năm 1986 (Trần Thị Thu Trang, 2024) và năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.47). Cùng với đó, nhờ thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, vì lợi ích quốc gia - dân tộc, Việt Nam đã khơi thông, tạo dựng được quan hệ ngoại giao với 195 quốc gia và vùng lãnh thổ, có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 38 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến, đối tác chiến lược toàn diện với cả 5 nước Ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc, 7 nước công nghiệp phát triển hàng đầu thế giới (G7) và 17/20 nền kinh tế lớn nhất thế giới (G20). Đảng ta có quan hệ với 253 chính đảng ở 115 quốc gia trên thế giới, bao gồm 92 đảng cộng sản, 63 đảng cầm quyền, 38 đảng tham gia liên minh cầm quyền, tham chính... (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.143 - 144).


Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu tại Phiên thảo luận chung Đại hội
đồng lần thứ 152 của Liên minh Nghị viện thế giới (IPU-152), ngày 15/4/2026.

 
Trên phương diện ngoại giao đa phương, Việt Nam đã và đang tham gia, có những đóng góp một cách tích cực, chủ động và đảm nhiệm thành công many vai trò chủ chốt tại các diễn đàn đa phương như: ASEAN, Liên hợp quốc... với tư cách một đối tác tin cậy của cộng đồng quốc tế. Tại Liên hợp quốc - tổ chức đa phương toàn cầu lớn nhất, Việt Nam đã tham gia, hiện diện và ghi dấu ấn trên tất cả các lĩnh vực hoạt động là hòa bình - an ninh, hợp tác phát triển và quyền con người. Trong đó, đáng chú ý là việc đảm nhiệm thành công vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009 và nhiệm kỳ 2020 - 2021. Trên cương vị đảm trách, Việt Nam đã tích cực đóng góp, trong hình thành và xây dựng các cơ chế hợp tác, luật lệ, chuẩn mực chung... Từ năm 2014, khi bắt đầu tham gia các hoạt động gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc và đến giữa năm 2025, Việt Nam đã cử hơn 1.000 lượt sĩ quan quân đội, công an theo hình thức cá nhân và đơn vị đi làm nhiệm vụ tại châu Phi và Trụ sở Liên hợp quốc ở New York; cử lực lượng thực hiện nhiệm vụ cứu hộ, cứu nạn quốc tế tại Thổ Nhĩ Kỳ, Myanmar (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.145) và gần đây là Venezuela, qua đó giúp lan tỏa hình ảnh, nghĩa cử cao đẹp của Việt Nam đến cộng đồng quốc tế.
Hòa mình trong dòng chảy của nhân loại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đi từ phá thế “bị bao vây, cấm vận” tiến đến hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới, tiếp theo là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” một cách toàn diện. Tính đến tháng 10/2024, Việt Nam có quan hệ kinh tế, thương mại và đầu tư với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ, ký kết 17 FTA với trên 60 quốc gia, đối tác lớn trên toàn cầu và liên kết kinh tế song phương, đa phương, khu vực và liên khu vực, mở ra những thị trường xuất khẩu tiềm năng, vận động, thu hút đầu tư FDI, viện trợ ODA từ các đối tác hàng đầu trên thế giới (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.112).
Qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã vươn lên vị thế của một quốc gia tầm trung trong quan hệ quốc tế, xét trên các tiêu chí năng lực (sức mạnh), chính sách và sự công nhận của quốc tế (Vũ Lê Thái Hoàng, tr.69). Nói cách khác, Việt Nam đã có đủ tiềm lực, vị thế và trách nhiệm để tham gia tích cực vào các vấn đề của khu vực và thế giới. Đây chính là nền tảng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới, đồng thời, cũng là cơ sở quan trọng để Đảng ta xác định yêu cầu cho công tác đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa, vị thế của đất nước.
Bên cạnh những thuận lợi cơ bản trên, Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình trong bối cảnh cục diện thế giới được dự báo: đang chuyển biến nhanh, phức tạp chưa từng có theo hướng đa cực, đa trung tâm, đa tầng và phân tuyến mạnh. Cạnh tranh giữa các nước lớn được đánh giá sẽ ngày càng gay gắt hơn. Cùng với đó, sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cũng đặt ra những vấn đề mới đối với sản xuất, thương mại và những thách thức đi kèm. Bởi vậy, bốn nguy cơ mà Đảng ta chỉ ra còn tồn tại, thậm chí có mặt còn gay gắt hơn, nhất là nguy cơ tụt hậu về kinh tế, khoa học - công nghệ. Mặt khác, đối ngoại, hội nhập quốc tế của Việt Nam vẫn còn một số hạn chế, đó là: quan hệ với một số đối tác chưa tương xứng với tiềm năng và khuôn khổ quan hệ... việc theo dõi, triển khai, đôn đốc thực hiện các thỏa thuận, cam kết, hợp tác quốc tế vẫn còn hạn chế, còn các “điểm nghẽn” trong quan hệ với một số đối tác quan trọng... nhất là, chưa phát huy được một cách tối ưu thế và lực mới của đất nước.
Phát triển đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới
Trải qua quá trình phát triển, nhận thức của Đảng về mục tiêu đối ngoại ngày càng sâu sắc. Trong bối cảnh mới, mục tiêu phát triển được đặt lên vị trí hàng đầu. Việc xác định thứ tự ưu tiên như vậy, dẫn tới mục tiêu của đối ngoại, không chỉ dừng ở mức độ “nâng tầm” mà phát triển nên nấc thang mới “tương xứng với tầm vóc”; vừa tranh thủ nguồn lực bên ngoài cho phát triển đất nước, vừa phát huy sức mạnh văn hoá, lịch sử, giá trị Việt Nam để tăng ảnh hưởng quốc tế; vừa đảm bảo cao nhất lợi ích quốc gia, dân tộc, vừa đóng góp cho hòa bình, phát triển chung của nhân loại. Việc nhấn mạnh yêu cầu phát triển đối ngoại phải tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa, vị thế của đất nước, thể hiện bước phát triển mới trong tư duy chiến lược của Đảng, vừa phản ánh tính kế thừa, đồng thời cũng là sự điều chỉnh tất yếu, đúng đắn, phù hợp với tầm vóc, khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới, thể hiện tầm nhìn mới về bảo vệ và phát triển đất nước.

Cán bộ, chiến sĩ trong đoàn cứu hộ Việt Nam tại sân bay quốc tế Maiquetia, bang La Guaira, Venezuela

Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp Trung Quốc đang đầu tư tại Việt Nam, ngày 26/8/2026. Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì cuộc gặp gỡ các doanh nghiệp Trung Quốc đang đầu tư tại Việt Nam, ngày 26/8/2026.

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33 tổ chức ngày 01/8/2026, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh: Với việc lần đầu tiên Nghị quyết Đại hội Đảng xác định ngoại giao, đối ngoại là nhiệm vụ “trọng yếu, thường xuyên”, đối ngoại không đơn thuần là lĩnh vực quan hệ với bên ngoài mà đã trở thành cấu phần năng lực tổng hợp quốc gia. Đối ngoại không chỉ là nhiệm vụ của riêng cơ quan đối ngoại, mà là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị… Giờ là lúc đối ngoại phải phát huy vai trò tiên phong: thấy sớm, tham mưu đúng, hành động kịp thời; góp phần bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; mở đường, kết nối và tranh thủ nguồn lực phát triển. Tiên phong còn là theo sát công việc đến cùng, chủ động tháo gỡ khó khăn và chịu trách nhiệm về kết quả (Báo điện tử Chính phủ, ngày 01/8/2026). Để triển khai thực hiện thành công, có hiệu quả 06 nhiệm vụ trọng tâm công tác đối ngoại mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chỉ ra tại Hội nghị Ngoại giao lần thứ 33, cần nghiên cứu triển khai một số giải pháp trọng tâm, cụ thể là:
Thứ nhất, trong môi trường thế giới ngày càng bất định, khó lường, khi cạnh tranh chiến lược nước lớn ngày càng gay gắt... Cùng với đó, ở trong nước cũng đang xúc tiến những bước đi mạnh mẽ, hướng tới thực hiện hai mục tiêu một trăm năm, với cơ hội và thách thức đan xen, đặt ra yêu cầu phải xử lý hài hòa. Trong bức tranh toàn cảnh đó, để phát triển đối ngoại tương xứng with tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, việc định vị Việt Nam có ý nghĩa hết sức quan trọng. Trên cơ sở đó, giúp chúng ta trong định hướng chiến lược cho đối ngoại Việt Nam và xác định được những nguyên tắc đối ngoại của mình trong quan hệ quốc tế. Những nguyên tắc đối ngoại này vừa thể hiện xu thế quốc tế, vừa bảo đảm phục vụ lợi ích thiết thực của đất nước, tạo tiền đề để Việt Nam đẩy mạnh hội nhập quốc tế theo hướng chuyển từ tiếp nhận sang đóng góp... từ hội nhập sâu rộng sang hội nhập đầy đủ; từ vị thế quốc gia đi sau hội nhập vào thế giới sang một quốc gia tiên phong trong các lĩnh vực có thế mạnh...
Thứ hai, kiên trì thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đồng bộ và hiệu quả, bảo đảm nguyên tắc sự lãnh đạo thống nhất của Đảng, sự quản lý tập trung của Nhà nước.
Thứ ba, để phát triển đối ngoại Việt Nam trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, chúng ta cần thúc đẩy các mối quan hệ song phương đi vào chiều sâu, hiệu quả, thực chất, trong đó, chú trọng quan hệ với các nước láng giềng có chung biên giới. Đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương, để từ đó tham gia đóng góp tích cực, chủ động cũng như phát huy vai trò của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế.
Thứ tư, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng lần đầu tiên đề xuất đưa đối ngoại, hội nhập quốc tế trở thành nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên. Sở sở dĩ, Đảng ta xác định như vậy, là bởi lẽ, hiện nay Việt Nam đã hội nhập quốc tế sâu rộng. Sự hội nhập này đã tác động đến an ninh, chính trị của Việt Nam, đồng thời, dẫn tới sự thâm nhập lẫn nhau giữa những lĩnh vực quốc phòng - an ninh - đối ngoại. Thực tế, các lực lượng quốc phòng - an ninh cũng trực tiếp làm công tác đối ngoại - đối ngoại quốc phòng, an ninh. Việc kết hợp chặt chẽ giữa ba trụ cột quốc phòng, an ninh, đối ngoại, hội nhập quốc tế chính là chìa khóa để giữ vững độc lập, chủ quyền, ổn định chính trị, nâng cao vị thế, uy tín của Việt Nam, góp phần tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài, đưa đất nước tiến vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên phát triển hùng cường và thịnh vượng. Theo đó, vấn đề đặt ra là cần có sự chủ động hợp tác, phối hợp chặt chẽ với nhau giữa quốc phòng - an ninh - đối ngoại. Để sự phối hợp đạt hiệu quả, vấn đề quan trọng là giữa ba lực lượng cần tạo ra cơ chế hoạt động, trên cơ sở chia sẻ thông tin với nhau, cùng nhau bàn, cùng nhau nghĩ và cùng nhau đề xuất.
Thứ năm, cùng với sự phối hợp giữa ba lực lượng quốc phòng - an ninh - đối ngoại và hội nhập quốc tế, tạo thành thể thống nhất, phải tranh thủ phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị hình quốc tế, về đối tác, đối tượng, cũng như những cơ hội và thách thức nảy sinh, qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển đối ngoại đất nước trong bối cảnh mới. Để giải quyết hạn chế này, một vấn đề cần đặc biệt quan tâm, đó là, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, có tầm nhìn chiến lược, am hiểu sâu sắc về văn hóa, luật pháp quốc tế và công nghệ số.
trong thực hiện các hoạt động đối ngoại, ngoại giao một cách toàn diện phục vụ phát triển, trọng tâm là ngoại giao kinh tế, phát huy hiệu quả các phương thức ngoại giao đa dạng. Bên cạnh đó, cần phát huy tốt thế và lực mới của đất nước để đẩy mạnh đối ngoại địa phương theo hướng chuyên nghiệp, hiện đại.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - New Zealand, ngày 22/7/2026. Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Lê Hoài Trung đồng chủ trì Hội nghị Bộ trưởng Ngoại giao ASEAN - New Zealand, ngày 22/7/2026.

Thứ sáu, từ thực tiễn phối hợp chưa đồng bộ giữa các lĩnh vực, cũng như một số vấn đề lý luận chưa được nhận thức đầy đủ và giải quyết thấu đáo, nhất là việc xác định hướng đi ưu tiên cho ngoại giao chuyên biệt của Việt Nam, trong thời gian tới, để xây dựng một nền đối ngoại Việt Nam toàn diện, hiện đại, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa các bộ phận cấu thành của đối ngoại, từ đối ngoại đảng, ngoại giao nhà nước, đối ngoại nhân dân, đến các hoạt động đối ngoại trong các lĩnh vực đặc thù, chuyên biệt.
Thứ bảy, thực tiễn cũng cho thấy, công tác nghiên cứu, dự báo của đối ngoại, ngoại giao Việt Nam thời gian qua vẫn có lúc chưa theo kịp tình hình, cũng như sự hiểu biết về đối tác chưa được sâu, ngược lại, đối tác cũng chưa hiểu sâu và kỹ về Việt Nam. Thực tiễn đó đặt ra vấn đề cao hơn cho công tác nghiên cứu, dự báo, tham mưu của đối ngoại, ngoại giao, nhất là việc thống nhất trong nhận thức về tình hình quốc tế, về đối tác, đối tượng, cũng như những cơ hội và thách thức nảy sinh, qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển đối ngoại đất nước trong bối cảnh mới. Để giải quyết hạn chế này, một vấn đề cần đặc biệt quan tâm, đó là, đào tạo đội ngũ cán bộ làm công tác đối ngoại, ngoại giao, có tầm nhìn chiến lược, am hiểu sâu sắc về văn hóa, luật pháp quốc tế và công nghệ số.
Thứ tám, nâng cao hiệu quả công tác thông tin, tuyên truyền đối ngoại, phát huy lợi thế của công nghệ, để lồng ghép ngoại giao văn hóa vào ngoại giao kinh tế, ngoại giao chính trị, quảng bá các giá trị văn hóa, hình ảnh, đất nước, con người Việt Nam đến bạn bè quốc tế, qua đó khai thác hiệu quả lợi thế từ sức mạnh mềm của văn hóa, đáp ứng cho mục tiêu phát triển đối ngoại Việt Nam tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước trong kỷ nguyên mới.
Thứ chín, với thế và lực mới của đất nước, cũng như đáp ứng cho yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, một vấn đề cần hết sức quan tâm, đó là, bảo đảm nguồn lực cho công tác đối ngoại. Từ bài học kinh nghiệm của một số quốc gia về hoạt động ngoại giao chuyên biệt, chúng ta cần xác định hướng đi ưu tiên cho ngoại giao Việt Nam sao cho phù hợp với tình hình và thực tiễn đặt ra, nhằm hiện thực hóa mục tiêu vươn mình của dân tộc trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:
1. GS.TS. Tô Lâm, Một số nhận thức cơ bản về kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Tạp chí Cộng sản số 1050 (tháng 11/2024).
2, 5. Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.117, tr.47.
3. Phạm Lan Dung - Từ Anh Tuấn,
Đối ngoại với sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa: thành tựu và bài học kinh nghiệm, Tạp chí Cộng sản số 1045 (tháng 9/2024).
4. Trần Thị Thu Trang,
Một số vấn đề về xây dựng nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa: Thành tựu phát triển lý luận của Đảng qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Tạp chí Cộng sản số 1050 (tháng 11/2024).
6, 7, 8. Đảng Cộng sản Việt Nam,
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.143-144, tr.145, tr.112.
9. Vũ Lê Thái Hoàng (Chủ biên),
Ngoại giao chuyên biệt hướng đi, ưu tiên mới của ngoại giao Việt Nam đến năm 2030, Nxb CTQG-ST, H.2020, tr.69