
QUẢN TRỊ QUỐC GIA TRONG THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI SỐ
THS. TRẦN NGỌC THÁI SƠN
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
CHUYÊN TRANG ĐA PHƯƠNG TIỆN

QUẢN TRỊ QUỐC GIA TRONG THÚC ĐẨY PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƯ NHÂN THỜI KỲ CHUYỂN ĐỔI SỐ
THS. TRẦN NGỌC THÁI SƠN
Học viện Báo chí và Tuyên truyền
Bài viết phân tích vai trò của quản trị quốc gia trong thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân thời kỳ chuyển đổi số, làm rõ những kết quả đạt được, các hạn chế và những vấn đề đặt ra trong hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và năng lực điều phối chính sách. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp hướng tới mục tiêu đổi mới quản trị quốc gia để phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia trong kỷ nguyên mới của đất nước.
Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan triển lãm tại sự kiện 80 năm ngành Bưu chính - Viễn thông, 66 năm ngành Khoa học - Công nghệ và Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I, ngày 29/9/2025.
Chuyển đổi số đang tái định hình phương thức quản trị, mô hình tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của các quốc gia. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định “Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của trí tuệ nhân tạo, công nghệ số…, đặt ra yêu cầu cấp bách về xác lập mô hình tăng trưởng, mô hình phát triển mới, nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất mới và năng lực cạnh tranh quốc gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.9). Hiệu quả quản trị quốc gia trở thành nhân tố quyết định khả năng huy động, phân bổ và phát huy các nguồn lực cho phát triển kinh tế tư nhân, để khu vực kinh tế tư nhân phát huy vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia theo quan điểm chỉ đạo của Đảng.
Quản trị quốc gia và yêu cầu thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân trong thời kỳ chuyển đổi số
Theo Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP), quản trị quốc gia bao gồm các thể chế, cơ chế và quy trình mà thông qua đó các chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách công nhằm bảo đảm việc sử dụng quyền lực nhà nước phục vụ mục tiêu phát triển bền vững (UNDP, 1997, pp. 2-3). Ngân hàng Thế giới cho rằng, quản trị quốc gia phản ánh năng lực của nhà nước trong xây dựng và thực thi chính sách, cung cấp dịch vụ công, bảo đảm chất lượng thể chế và tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội (World Bank, 2024, pp.3 - 30). Trong bối cảnh chuyển đổi số, quản trị quốc gia được mở rộng từ mô hình quản lý truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu, công nghệ số và sự tham gia của nhiều chủ thể, trong đó, năng lực kiến tạo thể chế, điều phối phát triển và tổ chức thực thi chính sách trở thành những tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả quản trị.
Kinh tế tư nhân là khu vực kinh tế dựa trên chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất, bao gồm doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, hộ kinh doanh và các loại hình sản xuất, kinh doanh khác do cá nhân hoặc tổ chức tư nhân làm chủ. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, tạo việc làm, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định: “phải quyết tâm đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; phải hành động mạnh mẽ, quyết liệt, đột phá, hiệu quả vì một Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập I, 2026, tr.14). Đây là định hướng quan trọng để tiếp tục đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia; hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Trong thời kỳ chuyển đổi số, vai trò của quản trị quốc gia càng trở nên nổi bật khi sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân phụ thuộc ngày càng lớn vào chất lượng điều hành của Nhà nước. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân tiếp tục xác định hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững và trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế (Ban Chấp hành Trung ương, 2025).
Quản trị quốc gia giữ vai trò định hướng và dẫn dắt chuyển đổi số, thông qua phát triển chính phủ số, hoàn thiện hạ tầng và cơ sở dữ liệu quốc gia, nâng cao chất lượng dịch vụ công trực tuyến và tăng cường kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước. Những yếu tố này góp phần giảm chi phí giao dịch, rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục hành chính, nâng cao tính minh bạch và tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận thông tin, mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh trong môi trường số (World Bank, 2021).
Quản trị quốc gia còn giữ vai trò điều phối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thúc đẩy liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cơ sở đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, hỗ trợ chuyển giao công nghệ và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng gay gắt, đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp nâng cao năng suất, tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu và gia tăng năng lực cạnh tranh quốc gia (OECD, 2024).
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm làm việc với Ban Chính sách, chiến lược Trung ương và các cơ quan liên quan về Đề án xây dựng quy định mới về đảng viên làm kinh tế tư nhân, ngày 14/9/2026.
Thực trạng quản trị quốc gia trong thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
Kết quả đạt được
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tham dự Hội nghị thượng đỉnh BRICS lần thứ 18, ngày 12 - 13/9/2026.
Thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta ban hành nhiều chủ trương, chính sách quan trọng nhằm phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu: “Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, có sự quản lý của Tổng Bí thư Tô Lâm và các đại biểu tham quan triển lãm tại sự kiện 80 năm ngành Bưu chính - Viễn thông, 66 năm ngành Khoa học - Công nghệ và Đại hội Thi đua yêu nước lần thứ I, ngày 29/9/2025.
Nhà nước, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới; phát triển kinh tế nhà nước thực sự giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, định hướng chiến lược và dẫn dắt nền kinh tế, phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.386).
Quản trị quốc gia từng bước được đổi mới theo hướng số hóa và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Việc triển khai chính phủ điện tử, chính phủ số, phát triển cơ sở dữ liệu quốc gia, mở rộng dịch vụ công trực tuyến và đơn giản hóa thủ tục hành chính đã góp phần giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch và cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh. Những kết quả này không chỉ nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước mà còn tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân tiếp cận thông tin, thực hiện thủ tục hành chính nhanh chóng, mở rộng hoạt động đầu tư, sản xuất và kinh doanh trong môi trường số (World Bank, 2021). Đến năm 2025, cả nước có khoảng 940 nghìn doanh nghiệp đang hoạt động và hơn 05 triệu hộ kinh doanh; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp khoảng 51% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước, gần 60% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và tạo việc làm cho trên 82% lực lượng lao động (Cục Thống kê, 2025).
Quản trị quốc gia cũng tạo động lực thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân. Việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo cơ sở chính trị quan trọng để doanh nghiệp tăng cường đầu tư vào công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các mô hình kinh doanh mới (Bộ Chính trị, 2024). Những kết quả đạt được cho thấy quản trị quốc gia ở Việt Nam đã có bước chuyển quan trọng từ quản lý hành chính sang quản trị kiến tạo phát triển, lấy hoàn thiện thể chế, cải cách hành chính, chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả thực thi chính sách làm nền tảng thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân phát triển.
Những hạn chế
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng chủ trì Hội nghị Thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp “Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng”, ngày 18/7/2026.
Một là, thể chế và chính sách phát triển kinh tế tư nhân vẫn chưa thật sự đồng bộ và ổn định. Một số quy định pháp luật còn chồng chéo, thiếu thống nhất giữa các lĩnh vực đầu tư, đất đai, xây dựng, khoa học và công nghệ, chuyển đổi số, làm gia tăng chi phí tuân thủ và kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính.
Hai là, hiệu quả tổ chức thực thi chính sách chưa đáp ứng yêu cầu phát triển trong thời kỳ chuyển đổi số. Một số chính sách hỗ trợ đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển doanh nghiệp chưa phát huy hiệu quả như kỳ vọng do thiếu sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước. Quá trình triển khai ở một số nơi còn mang tính hành chính, chưa bám sát nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, dẫn đến khoảng cách giữa chủ trương, chính sách và kết quả thực thi.
Ba là, chuyển đổi số trong quản trị nhà nước còn chưa đồng đều. Mặc dù chính phủ số và dịch vụ công trực tuyến đã đạt nhiều kết quả tích cực, song việc kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan nhà nước vẫn chưa thực sự thông suốt; một số cơ sở dữ liệu chuyên ngành chưa được tích hợp đồng bộ. Điều này làm giảm hiệu quả giải quyết thủ tục hành chính, ảnh hưởng đến khả năng khai thác dữ liệu phục vụ hoạch định và thực thi chính sách.
Bốn là, năng lực điều phối phát triển và hỗ trợ doanh nghiệp còn những bất cập. Cơ chế phối hợp giữa các bộ, ngành và địa phương trong triển khai chính sách phát triển kinh tế tư nhân chưa thật sự hiệu quả; việc liên kết giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp, cơ sở nghiên cứu và cơ sở đào tạo còn hạn chế. Điều này ảnh hưởng đến khả năng nâng cao năng suất, năng lực đổi mới sáng tạo và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân.
Năm là, chất lượng nguồn nhân lực trong khu vực công và khu vực doanh nghiệp chưa theo kịp yêu cầu của chuyển đổi số. Nguồn nhân lực có kỹ năng số, năng lực quản trị hiện đại và khả năng tổ chức thực thi các chính sách mới còn thiếu, ảnh hưởng đến hiệu quả cải cách hành chính, chuyển đổi số và hỗ trợ doanh nghiệp.
Một số giải pháp đổi mới quản trị quốc gia nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân thời kỳ chuyển đổi số
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và tạo lập môi trường kinh doanh thuận lợi, bình đẳng để kinh tế tư nhân phát triển.
Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính phát biểu tại phiên Đối thoại cấp cao của Diễn đàn Kinh tế tư nhân Việt Nam (VPSF) 2025 với chủ đề “Khai phóng tiềm năng - Kiến tạo tương lai Việt”, ngày 16/9/2025.
Đổi mới quản trị quốc gia trước hết phải tạo lập một môi trường thể chế ổn định, minh bạch, nhất quán và có khả năng dự báo, trong đó quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và quyền tiếp cận thị trường của doanh nghiệp tư nhân được bảo đảm thực chất. Trọng tâm không chỉ là giảm thủ tục hành chính mà phải rà soát, loại bỏ các điều kiện kinh doanh và quy định tạo chi phí tuân thủ không cần thiết. Nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách đối với doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, để chính sách không tạo thêm rào cản đối với quá trình gia nhập, mở rộng và đổi mới hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thứ hai, khơi thông và đa dạng hóa các nguồn lực cho kinh tế tư nhân, nhất là vốn, đất đai, công nghệ và nhân lực chất lượng cao.
Quản trị quốc gia cần chuyển từ tư duy hỗ trợ dàn trải sang tạo lập cơ chế để doanh nghiệp tư nhân có khả năng tiếp cận bình đẳng và hiệu quả các nguồn lực phát triển. Trọng tâm là hoàn thiện chính sách tín dụng, đa dạng hóa các kênh huy động vốn trung và dài hạn, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ. Việc khơi thông nguồn lực phải hướng đến nâng cao năng lực nội sinh và khả năng tự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, thay vì tạo ra sự phụ thuộc vào hỗ trợ của Nhà nước.
Thứ ba, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nâng cao năng suất, sức cạnh tranh.
Tọa đàm Nhân rộng mô hình nhà máy thông minh ứng dụng AI, tự động hóa và công nghệ số trong ngành sản xuất Việt Nam, ngày 10/9/2026.
Trong bối cảnh chuyển đổi số, quản trị quốc gia cần tạo ra hệ sinh thái thuận lợi để doanh nghiệp tư nhân trở thành chủ thể trực tiếp của đổi mới sáng tạo, thay vì chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách. Nhà nước cần hoàn thiện cơ chế thử nghiệm chính sách đối với mô hình kinh doanh và công nghệ mới; phát triển hạ tầng dữ liệu và các nền tảng số dùng chung; mở rộng khả năng tiếp cận dữ liệu, công nghệ và dịch vụ hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Chính sách hỗ trợ cần gắn với kết quả đầu ra như năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng đổi mới, doanh thu từ sản phẩm mới và năng lực tham gia thị trường quốc tế, qua đó chuyển trọng tâm từ hỗ trợ đầu vào sang nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Thứ tư, xây dựng hệ sinh thái liên kết và nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp tư nhân.
Đổi mới quản trị quốc gia cần hướng mạnh vào việc hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp, trong đó Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, kết nối và mở rộng cơ hội thị trường. Xây dựng cơ chế thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp tư nhân với doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức trung gian. Cần có chính sách phát triển các doanh nghiệp tư nhân quy mô lớn, có năng lực công nghệ và quản trị tốt, đóng vai trò ‘đầu tàu’ dẫn dắt, kéo theo doanh nghiệp nhỏ và vừa tham gia mạng lưới sản xuất, cung ứng và phân phối.
Thứ năm, đổi mới phương thức thực thi chính sách và xây dựng nền công vụ đồng hành, phục vụ doanh nghiệp tư nhân.
VinRobotics giới thiệu robot hình người “Make in Vietnam” VR-H3 tại Hội nghị quốc tế về Robot và tự động hóa (ICRA) 2026, ngày 03/6/2026
Hiệu quả của chính sách phát triển kinh tế tư nhân phụ thuộc trực tiếp vào chất lượng tổ chức thực thi ở các bộ, ngành và địa phương. Thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá riêng đối với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ kinh tế tư nhân, lấy kết quả và mức độ cải thiện môi trường kinh doanh làm căn cứ đánh giá trách nhiệm của cơ quan thực thi và người đứng đầu. Đẩy mạnh số hóa quy trình giải quyết thủ tục, cung cấp thông tin chính sách và dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp trên nền tảng số.
Trong thời kỳ chuyển đổi số, quản trị quốc gia giữ vai trò quyết định trong việc tạo lập môi trường thể chế, nâng cao hiệu lực thực thi chính sách và huy động các nguồn lực cho phát triển kinh tế tư nhân. Đổi mới quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, quản trị số, nâng cao chất lượng thực thi chính sách, tăng cường trách nhiệm giải trình và phát huy hệ sinh thái đổi mới sáng tạo là những giải pháp có ý nghĩa nền tảng để thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và thực hiện mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045.
─────────────────────────────────────────────────────────
Tài liệu tham khảo:
1, 4. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.9, tr.14.
2. United Nations Development Programme (1997), Governance for Sustainable Human Development, New York: UNDP, pp.2-3.
3. World Bank (2024), Worldwide Governance Indicators 2024, Washington, DC: World Bank.
5. Ban Chấp hành Trung ương, Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
6, 9. World Bank (2021), Vietnam Digital Economy Report 2021: Pathways to Digital Transformation, Washington, DC: World Bank.
7. OECD (2024), SME and Entrepreneurship Outlook 2024, Paris: OECD Publishing.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập II, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.386.
10. Cục Thống kê, Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, Nxb Thống kê, tr.31.
11. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.