← E-Magazine

CHUYÊN TRANG ĐA PHƯƠNG TIỆN

Truyền thông xã hội với việc giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ trong kỷ nguyên phát triển mới

TRUYỀN THÔNG XÃ HỘI VỚI VIỆC GIỮ GÌN, PHÁT HUY PHẨM CHẤT ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG CỦA CÁN BỘ

TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

PGS.TS. DƯƠNG QUANG HIỂN

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm cùng các đại biểu tham quan khu trưng bày sách và triển lãm tại Lễ kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống lực lượng An ninh nhân dân (12/7/1946 - 12/7/2026)
 

 
 

Bài viết phân tích việc phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ trước tác động của truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới. Trên cơ sở đó, làm rõ tác động hai mặt của truyền thông xã hội đối với phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ, đồng thời cần chủ động định hướng, kiểm soát và phát huy mặt tích cực, phòng ngừa tiêu cực, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ trước tác động của truyền thông xã hội.

 

 
 

Đặt vấn đề

Trong kỷ nguyên mới, cùng với sự bùng nổ của khoa học, công nghệ, truyền thông xã hội đã trở thành môi trường thông tin đặc biệt quan trọng, tác động sâu sắc đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực tư tưởng, đạo đức, lối sống của đội ngũ cán bộ. Với tính chất lan tỏa nhanh, phạm vi rộng, đa chiều và khó kiểm soát, truyền thông xã hội vừa mở ra cơ hội to lớn trong việc nâng cao nhận thức, lan tỏa giá trị văn hóa, chuẩn mực đạo đức tốt đẹp, vừa tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm xói mòn phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ nếu không được định hướng đúng đắn. Vì vậy, việc nhận diện đầy đủ tác động hai chiều của truyền thông xã hội, từ đó đề ra giải pháp phù hợp nhằm giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ là nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa chiến lược cơ bản, lâu dài trong kỷ nguyên mới.

Phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ trước tác động của truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới

Giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ trước tác động của truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới cần thực hiện những nội dung trọng tâm sau:

Một là, nhận thức rõ truyền thông xã hội là môi trường thông tin mới, tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi đạo đức của cán bộ.

Mặc dù Đảng và Nhà nước ta chưa ban hành nghị quyết, hay đưa ra định nghĩa về truyền thông xã hội theo cách tiếp cận khái niệm học thuật, nhưng trong các văn kiện, nghị quyết, chỉ thị, kết luận, văn bản pháp luật và phát biểu chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã đánh giá nhất quán, mang tính định hướng chính trị rõ nét về vị trí, vai trò, tính chất và tác động của truyền thông xã hội. Các văn kiện của Đảng xác định truyền thông xã hội là một bộ phận quan trọng của không gian mạng, có tác động sâu rộng đến đời sống xã hội, đặc biệt là lĩnh vực tư tưởng, văn hóa. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương,chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nêu rõ: Không gian mạng, trong đó, có mạng xã hội, trở thành môi trường mới, có ảnh hưởng lớn đến phát triển kinh tế - xã hội, quản trị quốc gia và đời sống con người (Ban Chấp hành Trung ương, 2019). Luật An ninh mạng năm 2018 cũng gián tiếp xác định: Không gian mạng là nơi diễn ra các hoạt động xã hội, trong đó có hoạt động thông tin, truyền thông, kết nối con người (Quốc hội, 2018). Chúng ta có thể hiểu, truyền thông xã hội được nhìn nhận như một môi trường xã hội đặc thù, có tính lan tỏa mạnh, đa chiều và khó kiểm soát hoàn toàn.

Truyền thông xã hội trong kỷ nguyên số không chỉ đơn thuần là công cụ truyền tải thông tin mà đã trở thành một “không gian xã hội ảo” có sức ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhận thức, tư duy và hành vi của con người. Đối với đội ngũ cán bộ, đây là môi trường mà họ vừa là chủ thể tiếp nhận, vừa là chủ thể sản xuất và lan tỏa thông tin. Tính chất tương tác đa chiều, tức thời và khó kiểm chứng của truyền thông xã hội tạo ra những biến đổi sâu sắc trong cách thức hình thành, củng cố và biến đổi các giá trị văn hóa dân tộc và chuẩn mực đạo đức xã hội.

Tác động tích cực, truyền thông xã hội góp phần mở rộng tầm nhìn, nâng cao nhận thức chính trị, đạo đức của cán bộ thông qua việc tiếp cận nhanh chóng các nguồn thông tin chính thống, các giá trị tiến bộ, các tấm gương tiêu biểu. Đây là điều kiện thuận lợi để cán bộ tự học tập, tự rèn luyện, tự điều chỉnh hành vi phù hợp với chuẩn mực đạo đức cách mạng. Đánh giá về tác động tích cực của truyền thông xã hội, Nghị quyết số 35-NQ/TW và Kết luận số 89 KL/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” giai đoạn 2026 - 2031 nhấn mạnh việc tận dụng internet, mạng xã hội để lan tỏa thông tin tích cực; là kênh thông tin nhanh, rộng, góp phần nâng cao dân trí, mở rộng tiếp cận tri thức; tạo điều kiện để Nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp phần xây dựng Đảng và hệ thống chính trị; là công cụ để lan tỏa giá trị tốt đẹp, gương người tốt việc tốt, củng cố niềm tin xã hội (Bộ Chính trị, 2018, 2024).

Tác động tiêu cực của truyền thông xã hội cũng hết sức đáng lo ngại. Sự xuất hiện tràn lan của thông tin xấu độc, xuyên tạc, sai sự thật, cùng với xu hướng “giật gân hóa”, “câu view” có thể làm lệch lạc nhận thức, làm phai nhạt lý tưởng, niềm tin của một bộ phận cán bộ; biến đổi các giá trị văn hóa dân tộc và chuẩn mực đạo đức xã hội hiện nay. Đánh giá về mặt trái, nguy cơ của truyền thông xã hội, các Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XII, XIII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nhất là Nghị quyết số 35-NQ/TW và Kết luận số 89-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” giai đoạn 2026 - 2031 khẳng định: Truyền thông xã hội là môi trường để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng tăng cường chống phá Đảng, Nhà nước; xuyên tạc, phủ nhận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; lan truyền thông tin xấu độc, sai sự thật, gây nhiễu loạn nhận thức xã hội (Bộ Chính trị, 2018, 2024). Từ đó, có nguy cơ dẫn đến “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của cán bộ (Bộ Chính trị, 2018, 2024). Nếu thiếu bản lĩnh chính trị, thiếu khả năng “miễn dịch” trước thông tin độc hại, cán bộ dễ bị tác động tiêu cực, dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Do đó, cần nhận thức rõ truyền thông xã hội là môi trường thông tin mới, tác động trực tiếp đến nhận thức và hành vi đạo đức cán bộ; truyền thông xã hội không trung tính về giá trị: vừa là công cụ, vừa là môi trường đấu tranh tư tưởng - lý luận hiện nay. Vì vậy, khai thác hiệu quả, kiểm soát chặt chẽ môi trường này có ý nghĩa quyết định trong việc giữ gìn và phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ hiện nay.

Hai là, tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng trong định hướng thông tin và quản lý truyền thông xã hội hiệu quả.

Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm cho truyền thông xã hội phát triển đúng hướng, phục vụ mục tiêu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Do đó, Đảng và Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống quan điểm, chủ trương, chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng truyền thông xã hội, bảo đảm vừa phát huy mặt tích cực, vừa hạn chế mặt tiêu cực, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam và thông lệ quốc tế. Đảng và Nhà nước ta xác định rõ phương châm: Chủ động, tích cực tham gia, khai thác hiệu quả, đồng thời, quản lý chặt chẽ và đấu tranh với các thông tin xấu độc trên mạng xã hội; kết hợp “xây” và “chống”; xây dựng môi trường thông tin lành mạnh; chống lại thông tin sai trái, thù địch (Bộ Chính trị, 2018, 2024). Nhà nước ta chỉ đạo và có một số định hướng lớn: Quản lý, định hướng và phát huy mặt tích cực của truyền thông xã hội; quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet; trong đó, Luật An ninh mạng xác định: Tăng cường pháp luật và quản lý nhà nước; Phát huy vai trò của báo chí chính thống trong định hướng dư luận trên không gian mạng (Quốc hội, 2018).

Đồng thời, cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao nhận thức cho cán bộ về vai trò, tác động của truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ chế quản lý chặt chẽ, đồng bộ, kết hợp giữa “xây” và “chống”: xây dựng môi trường thông tin lành mạnh, lan tỏa giá trị tích cực; kiên quyết đấu tranh với thông tin xấu độc, phản động. Công tác kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm cần được thực hiện nghiêm minh, kịp thời. Đặc biệt, cần tiếp tục phát huy vai trò của các cơ quan báo chí, truyền thông chính thống trong việc định hướng dư luận, dẫn dắt thông tin, tạo “dòng chảy chính” trong không gian mạng. Đây là nội dung, biện pháp quan trọng nhằm bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng trong kỷ nguyên số.

Ba là, nâng cao bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ trước tác động hai mặt của truyền thông xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Cán bộ là gốc của mọi công việc” (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr.269). Do đó, yêu cầu bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng đối với cán bộ càng phải cao, đòi hỏi cán bộ vừa “hồng”, vừa “chuyên” - “đủ sức, đủ đức, đủ tài, đủ uy tín”. Trong bối cảnh hiện nay, cán bộ các cấp càng phải quán triệt và thực hành đầy đủ nội dung chính trị, tư tưởng trong Đảng theo Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026: phải có bản lĩnh vững vàng trước các tác động tiêu cực của truyền thông xã hội; phải “giữ vững lập trường, kiên định lý tưởng, chủ động đấu tranh với thông tin xấu độc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.9). Cán bộ các cấp cần tăng cường tự rèn luyện bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng, lối sống lành mạnh; đồng thời, nâng cao năng lực công nghệ số và kỹ năng truyền thông. Đây là nội dung, biện pháp cơ bản, lâu dài nhằm bảo đảm hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng đối với cán bộ các cấp trong thời đại số hiện nay.

Truyền thông xã hội mang tính hai mặt, vừa mang tính tích cực, vừa có những tiêu cực. Mặt tích cực thể hiện ở khả năng lan tỏa nhanh các giá trị chân - thiện - mỹ, cổ vũ những hành động đẹp, góp phần hình thành dư luận xã hội lành mạnh. Đây là điều kiện thuận lợi để xây dựng môi trường đạo đức trong sạch, củng cố niềm tin của cán bộ đối với Đảng, Nhà nước và chế độ. Mặt tiêu cực biểu hiện ở sự xâm nhập của các luồng tư tưởng phản động, cơ hội chính trị, thực dụng, cá nhân chủ nghĩa. Những nội dung này thường được “ngụy trang” tinh vi dưới các hình thức hấp dẫn, dễ tiếp cận, dễ lan truyền, tác động mạnh đến tâm lý, nhận thức của người sử dụng, đặc biệt là cán bộ trẻ. Thực tiễn cho thấy, một số cán bộ sử dụng mạng xã hội để đăng tải thông tin thiếu kiểm chứng, phát ngôn tùy tiện, thậm chí bộc lộ quan điểm lệch lạc, gây bức xúc dư luận; có trường hợp sa vào lối sống phô trương, làm suy giảm uy tín cá nhân, tổ chức; cá biệt, có cán bộ bị lôi kéo, tiếp nhận thông tin xấu độc, dẫn đến biểu hiện dao động về tư tưởng chính trị, suy thoái về đạo đức, lối sống.

Vì thế, bản lĩnh chính trị và đạo đức cách mạng của cán bộ trở thành “lá chắn” quan trọng. Bản lĩnh chính trị giúp cán bộ kiên định lập trường, không dao động trước thông tin sai trái; chuẩn mực đạo đức giúp cán bộ tự điều chỉnh hành vi, giữ gìn phẩm chất cách mạng trong mọi hoàn cảnh. Thực tiễn cho thấy, nơi nào cán bộ có bản lĩnh vững vàng, có nền tảng đạo đức tốt, nơi đó truyền thông xã hội trở thành công cụ hữu ích; ngược lại, nơi nào cán bộ thiếu bản lĩnh, thiếu tu dưỡng, truyền thông xã hội dễ trở thành “mảnh đất” cho sự suy thoái. Vì vậy, phải coi việc nâng cao bản lĩnh chính trị, đạo đức cách mạng là giải pháp căn bản, lâu dài để ứng phó với tác động hai mặt của truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới.

Bốn là, xây dựng môi trường văn hóa đạo đức lành mạnh cả trên môi trường thực và môi trường số nhằm giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ.

C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định, con người vừa là sản phẩm của hoàn cảnh, vừa là chủ thể cải biến hoàn cảnh (C.Mác và Ph.Ăngghen, tập 3, 1994, tr.46). V.I.Lênin nhấn mạnh, đạo đức cộng sản phải phục tùng lợi ích của cuộc đấu tranh xây dựng xã hội mới. Điều đó cho thấy, môi trường xã hội - bao gồm cả không gian số có tác động trực tiếp đến việc hình thành, củng cố và phát triển phẩm chất đạo đức của cán bộ. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi đạo đức cách mạng là “gốc” của cán bộ; Người yêu cầu phải thường xuyên tu dưỡng trong mọi hoàn cảnh, chống chủ nghĩa cá nhân, giữ vững “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.434).

Hiện nay, yêu cầu phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ toàn diện theo tư tưởng Hồ Chí Minh, trong đó bao gồm những giá trị cốt lõi như: Trung thành với Đảng, với Tổ quốc, tận tụy với Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.9); “Cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.434). Sự phát triển mạnh mẽ của truyền thông xã hội vừa tạo điều kiện lan tỏa giá trị tích cực, vừa tiềm ẩn nguy cơ xói mòn chuẩn mực đạo đức, nếu thiếu môi trường văn hóa lành mạnh và cơ chế kiểm tra, giám sát hiệu quả. Nghị quyết số 35-NQ/TW chỉ rõ yêu cầu chủ động đấu tranh trên không gian mạng, xây dựng môi trường thông tin trong sạch, lành mạnh. Đồng thời, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng đội ngũ cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức trong sáng, thích ứng với chuyển đổi số và hội nhập quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Môi trường văn hóa chính trị lành mạnh, dân chủ, nhân văn, kỷ luật nghiêm minh sẽ là “bộ lọc giá trị” giúp cán bộ, nhất là cán bộ trẻ tiếp thu điều tốt, đề kháng với những yếu tố tiêu cực từ bên ngoài. Đảng ta nhấn mạnh: “Chú trọng xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, xây dựng môi trường văn hóa nhân văn, lành mạnh, văn minh, hiện đại” (Bộ Chính trị, 2026, tr.7). Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng từng nói: “Muốn có xã hội tốt phải có con người tốt, muốn có con người tốt thì phải có môi trường xã hội tốt” (Phạm Văn Đồng, 1995, tr.71).

Trong môi trường truyền thông số, việc giữ gìn và phát huy những chuẩn mực đạo đức cách mạng vừa có thuận lợi, vừa có khó khăn, thách thức mới. Một mặt, truyền thông xã hội tạo điều kiện để cán bộ thể hiện trách nhiệm nêu gương, lan tỏa giá trị tích cực, xây dựng hình ảnh đẹp trong mắt Nhân dân. Những hành động, lời nói đúng đắn của cán bộ khi được chia sẻ trên mạng xã hội sẽ có sức lan tỏa mạnh mẽ, góp phần củng cố niềm tin xã hội. Mặt khác, môi trường số cũng làm gia tăng nguy cơ vi phạm chuẩn mực đạo đức. Những phát ngôn thiếu chuẩn mực, những hành vi thiếu trách nhiệm trên mạng xã hội có thể gây hậu quả nghiêm trọng, làm suy giảm uy tín của cá nhân và tổ chức. Đặc biệt, tính “ảo” của không gian mạng dễ khiến một số cán bộ chủ quan, buông lỏng tự kiểm soát. Do đó, giữ gìn phẩm chất đạo đức trong môi trường số đòi hỏi sự tự giác cao, sự kiểm soát chặt chẽ của tổ chức và sự giám sát của xã hội. Mỗi cán bộ cần ý thức rõ rằng, dù ở không gian thực hay không gian mạng, mọi hành vi đều phải tuân thủ quy định theo các giá trị văn hóa và chuẩn mực đạo đức cách mạng.

Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, xác định rõ chuẩn mực đạo đức cách mạng phù hợp môi trường số; tăng cường giáo dục chính trị, tư tưởng; phát huy vai trò nêu gương của cán bộ lãnh đạo; kết hợp chặt chẽ “xây” và “chống” trên không gian mạng; xây dựng hệ sinh thái truyền thông lành mạnh, nhân văn mang giá trị văn hóa. Chỉ trên nền tảng môi trường văn hóa - đạo đức thống nhất giữa đời sống thực và không gian số, phẩm chất đạo đức cách mạng của cán bộ mới được giữ gìn và phát huy bền vững.

Năm là, phát huy trách nhiệm nêu gương, tự tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng của cán bộ các cấp.

Trong mọi hoàn cảnh, yếu tố quyết định vẫn là con người, cụ thể là ý thức tự giác, tinh thần trách nhiệm và sự tu dưỡng của mỗi cán bộ. Truyền thông xã hội dù có tác động mạnh mẽ đến đâu cũng không thể thay thế vai trò chủ thể của con người trong việc giữ gìn đạo đức cách mạng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Người cách mạng phải có đạo đức, không có đạo đức thì dù tài giỏi mấy cũng không lãnh đạo được nhân dân” (Hồ Chí Minh, tập 9, 2011, tr.354). Vì thế, cán bộ phải thực sự là tấm gương về đạo đức cách mạng không chỉ trong công việc mà cả trong đời sống, kể cả trên không gian mạng. Mỗi lời nói, mỗi hành động đều phải thể hiện sự chuẩn mực, trách nhiệm, góp phần xây dựng hình ảnh người cán bộ mẫu mực.

Đồng thời, cần xây dựng thói quen “tự soi, tự sửa”, thường xuyên kiểm điểm, đánh giá bản thân, kịp thời điều chỉnh những biểu hiện lệch lạc. Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh cần được thực hiện một cách thực chất, gắn với hành động cụ thể. Ngoài ra, cần phát huy vai trò của tổ chức trong việc tạo môi trường rèn luyện, khuyến khích cán bộ phấn đấu; kịp thời phát hiện, uốn nắn những sai phạm. Sự kết hợp giữa tự giác cá nhân và kiểm tra, giám sát của tổ chức sẽ tạo nên sức mạnh tổng hợp trong việc giữ gìn, phát huy phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ các cấp.

Truyền thông xã hội trong kỷ nguyên mới là một hiện tượng tất yếu, khách quan, có tác động sâu rộng đến đời sống chính trị - xã hội, đặc biệt là đối với phẩm chất đạo đức cách mạng của đội ngũ cán bộ. Vì vậy, thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; hoàn thiện cơ chế quản lý truyền thông xã hội; tăng cường kiểm tra, giám sát; đồng thời, phát huy trách nhiệm nêu gương của cán bộ. Chỉ khi kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, giữa “đức trị” và “pháp trị”, chúng ta mới có thể khai thác hiệu quả truyền thông xã hội, biến thách thức thành cơ hội, góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ vững mạnh, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới.

 
 

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

2, 7. Quốc hội, Luật An ninh mạng, H.2018.

3, 4, 5, 6. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới; Kết luận số 89-KL/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” giai đoạn 2026 - 2031.

8. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.298.

9, 12. Đảng Cộng sản Việt Nam, Quy định số 19-QĐ/TW ngày 08/4/2026 về công tác chính trị, tư tưởng trong Đảng, tr.9.

10. C.Mác và Ph.Ăngghen, Toàn tập, tập 3, Nxb CTQG-ST, H.1994, tr.46.

11, 13. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.434, tr.434. 14. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập I, Nxb CTQG-ST, H.2026, tr.144.

15. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 về phát triển văn hóa Việt Nam, tr.7.

16. Phạm Văn Đồng, Văn hóa và đổi mới, Nxb Sự thật, H.1996, tr.71.

17. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 9, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.354.