← E-Magazine

CHUYÊN TRANG ĐA PHƯƠNG TIỆN

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 
VỀ CÔNG TÁC DÂN VẬN TRONG XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THS. TRẦN THỊ HUYỀN
Học viện Hàng không Việt Nam

Chủ tịch Hồ Chí Minh. Ảnh: TTXVN

 

 
 

Bài viết phân tích những giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận, khẳng định sự thống nhất giữa công tác dân vận với các nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, như quyền lực thuộc về Nhân dân và thượng tôn pháp luật. Thông qua việc đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp trọng tâm nhằm nâng cao hiệu quả công tác dân vận, góp phần xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả và đội ngũ cán bộ, đảng viên thực sự là “công bộc” của Nhân dân trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam.
 

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 03/9/2026 Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và các đại biểu tham quan trưng bày “Những tấm gương bình dị mà cao quý” tại Hội nghị toàn quốc nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện một số nghị quyết, chỉ thị của Bộ Chính trị, ngày 03/9/2026

Giá trị cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận không chỉ là những phương pháp vận động quần chúng biện chứng, khoa học, mà còn là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc, phản ánh thế giới quan và nhân sinh quan cách mạng, lấy Nhân dân làm trung tâm của sự nghiệp cách mạng và xây dựng Nhà nước. Những giá trị cốt lõi này vừa mang ý nghĩa lý luận nền tảng, vừa có giá trị thực tiễn lâu dài của công tác dân vận đối với quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay.

Trước hết, quan điểm “dân là gốc” và nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân là giá trị nền tảng nhất trong tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận. Người khẳng định: “Trong bầu trời không gì quý bằng Nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của Nhân dân” (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.126). Tư tưởng đó được cụ thể hóa rõ nét khi Người viết: “Nước ta là nước dân chủ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.126). Những luận điểm này khẳng định vị thế chủ thể của Nhân dân trong đời sống chính trị - pháp lý, đồng thời đặt nền tảng tư tưởng cho nguyên tắc quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định, công tác dân vận là trách nhiệm của toàn bộ hệ thống chính trị, không phải là công việc riêng của một ban, ngành hay tổ chức nào. Người nhấn mạnh: “Dân vận kém thì việc gì cũng kém, dân vận khéo thì việc gì cũng thành công” (Hồ Chí Minh, tập 6, 2011, tr.129). Quan điểm này cho thấy, công tác dân vận phải được thực hiện thường xuyên, liên tục trong hoạt động của bộ máy nhà nước và đội ngũ cán bộ, công chức, coi đó là điều kiện bảo đảm sự gắn bó giữa Nhà nước và Nhân dân.

Tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận thể hiện rõ tính khoa học và thực tiễn trong phương pháp thực hiện. Người phê phán mạnh mẽ lối làm việc quan liêu, mệnh lệnh, xa rời quần chúng, coi đây là nguyên nhân làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với chính quyền: “Bệnh quan liêu là xa rời quần chúng, không hiểu dân, không học dân” (Hồ Chí Minh, tập 5, 2011, tr.290 - 291).

Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân vận hướng tới mục tiêu phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Người cho rằng dân vận là “vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân, không để sót một người dân nào, góp thành lực lượng toàn dân” (Hồ Chí Minh, tập 6, tr.130-131), nhằm tập hợp sức mạnh toàn dân cho sự nghiệp chung của đất nước. Trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân vào Đảng và Nhà nước ta, từ đó bảo đảm cho pháp luật được thực thi không chỉ bằng quyền lực cưỡng chế mà còn bằng sự tự giác và đồng tình của xã hội

Vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay

Thực tiễn kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thời gian qua của Đảng và Nhà nước ta cho thấy có nhiều chuyển biến tích cực, thể hiện sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị trong việc đưa quan điểm “lấy dân làm gốc” vào tổ chức và vận hành bộ máy nhà nước.

Việc thể chế hóa quyền làm chủ của Nhân dân đã đạt được những kết quả rõ nét thông qua việc ban hành và triển khai các quy định về thực hiện dân chủ ở cơ sở qua nhiều năm, mà Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 và Nghị định số 59/2023/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở là những văn bản được ban hành gần đây nhất. Theo các báo cáo tổng hợp của Bộ Nội vụ thì “đến nay 100% xã, phường, thị trấn đã tổ chức thực hiện các nội dung dân chủ theo quy định” (Bộ Nội vụ, 2024). Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã từng bước trở thành nguyên tắc bắt buộc trong hoạt động của chính quyền các cấp, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình của bộ máy nhà nước.

Cải cách hành chính và chuyển đổi số đã tạo ra những chuyển biến quan trọng trong phương thức thực hiện công tác dân vận. Theo các báo cáo cải cách hành chính giai đoạn 2021 – 2025 thì “tỷ lệ hồ sơ giải quyết trực tuyến toàn trình và một phần đạt khoảng 75 - 80%” (Bộ Nội vụ, 2025), nhiều dịch vụ công thiết yếu đã được cung cấp trên môi trường số. Việc giảm tiếp xúc trực tiếp, rút ngắn thời gian và chi phí giải quyết thủ tục hành chính đã góp phần hạn chế tình trạng nhũng nhiễu, cửa quyền, qua đó nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân của bộ máy công quyền. Đáng chú ý, Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của “cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) trong những năm gần đây duy trì ở mức trên 85%” (Bộ Nội vụ, 2024).

Văn hóa ứng xử và phong cách làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đã có sự cải thiện rõ rệt. Việc đưa các chuẩn mực “trọng dân, gần dân, hiểu dân, học dân và có trách nhiệm với dân” vào quy tắc ứng xử công vụ đã tạo tiền đề cho nhiều mô hình hiệu quả như “Chính quyền thân thiện”, “Ngày không viết, ngày không hẹn”, đối thoại trực tiếp với Nhân dân, qua đó góp phần củng cố niềm tin xã hội và tăng cường nền tảng xã hội cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, việc kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa vẫn còn những hạn chế nhất định. Trước hết là tình trạng dân chủ hình thức trong việc lấy ý kiến Nhân dân ở một số địa phương, nhất là đối với các vấn đề nhạy cảm như quy hoạch, thu hồi đất. Theo báo cáo của các cơ quan tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo thì “khiếu nại, tố cáo liên quan đến đất đai thường chiếm khoảng 60 - 70% tổng số vụ việc hàng năm” (Thanh tra Chính phủ, 2025). Thực tế này cho thấy, quyền tham gia và phản biện xã hội của Nhân dân trong nhiều trường hợp chưa được bảo đảm đầy đủ và thực chất. Một bộ phận cán bộ, công chức vẫn còn biểu hiện xa dân, chưa thực sự coi công tác dân vận là yêu cầu thường xuyên trong thực thi công vụ. Tình trạng ngại tiếp dân, giải quyết chậm trễ hoặc thiếu đối thoại vẫn tồn tại ở một số nơi, làm giảm hiệu lực xã hội của pháp luật và ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy nhà nước.

Ngoài ra, công tác dân vận trên không gian mạng còn nhiều hạn chế. Trong bối cảnh “tỷ lệ người dân sử dụng internet và mạng xã hội ở Việt Nam đã vượt 70% dân số” (Bộ Thông tin và Truyền thông, 2024), không gian mạng trở thành kênh quan trọng để Nhân dân bày tỏ ý kiến và phản ánh bức xúc xã hội. Tuy nhiên, việc nắm bắt dư luận, phản hồi thông tin và xử lý tin giả trên các nền tảng số ở một số địa phương còn chậm, thiếu đồng bộ, dẫn đến bị động khi xuất hiện các vấn đề phức tạp, nhạy cảm.

Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết thăm hỏi sức khỏe người dân tại Míttinh hưởng ứng Ngày sức khỏe Việt Nam và giải đi bộ “Vì một Việt Nam khỏe mạnh. Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương Trịnh Văn Quyết thăm hỏi sức khỏe người dân tại Míttinh hưởng ứng Ngày sức khỏe Việt Nam và giải đi bộ “Vì một Việt Nam khỏe mạnh.

Cán bộ an ninh tuyên truyền pháp luật, vận động quần chúng tại địa bàn dân cư (Tuyên Quang). Cán bộ an ninh tuyên truyền pháp luật, vận động quần chúng tại địa bàn dân cư (Tuyên Quang).

Một số giải pháp tiếp tục vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận đáp ứng yêu cầu tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa trong bối cảnh chuyển đổi số

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh xây dựng chính phủ số và xã hội số, việc kế thừa, phát triển và vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận đòi hỏi phải được tiếp cận theo hướng hiện đại, linh hoạt và phù hợp với điều kiện mới (có thể gọi ngắn gọn là “Dân vận số”); gắn với triển khai thực hiện Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. “Dân vận số” không chỉ là việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt động quản lý nhà nước, mà đó là cách thức mới để hiện thực hóa quyền làm chủ của Nhân dân một cách minh bạch, kịp thời và hiệu quả, qua đó củng cố nền tảng xã hội cho Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Thứ nhất, xây dựng các nền tảng số để thực hiện quyền làm chủ trực tiếp của Nhân dân.

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa đòi hỏi sự tham gia thực chất của Nhân dân vào quá trình hoạch định và thực thi chính sách, pháp luật. Trong điều kiện chuyển đổi số, việc phát huy dân chủ không thể chỉ dựa vào các hình thức truyền thống trong tiếp xúc cử tri và đối thoại với Nhân dân, mà cần được mở rộng thông qua các nền tảng số tương tác hai chiều. Việc phát triển và hoàn thiện các ứng dụng chính quyền điện tử, tích hợp chức năng lấy ý kiến Nhân dân đối với các dự án luật, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương sẽ góp phần xóa bỏ rào cản về không gian và thời gian, tạo điều kiện để người dân tham gia vào quá trình quản lý nhà nước một cách thuận lợi hơn. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cần triển khai thực hiện có hiệu quả chỉ đạo của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Đại hội đại biểu Đảng bộ Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương lần thứ I, năm 2025 về tổ chức “Tháng nghe dân nói” ở tất cả các cấp, các vùng miền.

Bên cạnh đó, các hình thức đối thoại trực tuyến, khảo sát mức độ hài lòng của người dân thông qua mã QR, nền tảng số và phân tích dữ liệu lớn có thể giúp chính quyền nắm bắt nhanh chóng phản hồi của Nhân dân. Đây chính là biểu hiện sinh động của việc vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong điều kiện mới, khi quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện không chỉ bằng sự hiện diện trực tiếp, mà còn thông qua các công cụ số hiện đại.

Thứ hai, minh bạch hóa hoạt động quản lý nhà nước thông qua dữ liệu mở.

Công khai, minh bạch là một trong những nguyên tắc cốt lõi của Nhà nước pháp quyền. “Dân vận số” chính là công cụ quan trọng để hiện thực hóa phương châm “dân biết” ở mức độ đầy đủ và thực chất hơn. Theo đó, cần tiếp tục đẩy mạnh số hóa toàn bộ quy trình giải quyết thủ tục hành chính, cho phép người dân theo dõi trạng thái hồ sơ của mình, biết rõ cơ quan, cá nhân thụ lý và thời hạn giải quyết. Khi mọi quy trình được công khai trên môi trường số, khả năng giám sát của Nhân dân sẽ được tăng cường, đồng thời hạn chế các biểu hiện nhũng nhiễu, tùy tiện trong thực thi công vụ.

Việc phát triển hệ thống dữ liệu mở, công khai thông tin về ngân sách nhà nước, các dự án đầu tư, gói thầu và các chỉ số phát triển kinh tế - xã hội sẽ tạo điều kiện để Nhân dân thực hiện quyền giám sát và phản biện xã hội một cách thuận lợi. Đây là bước chuyển quan trọng từ “minh bạch hình thức” sang “minh bạch thực chất”, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với bộ máy công quyền.

Thứ ba, phát huy vai trò của truyền thông số và mạng xã hội trong công tác dân vận.

Trong bối cảnh không gian mạng trở thành môi trường giao tiếp xã hội phổ biến, công tác dân vận cần được triển khai mạnh mẽ trên các nền tảng số nơi Nhân dân hiện diện đông đảo. Việc xây dựng và vận hành hiệu quả các kênh truyền thông chính thức của cơ quan nhà nước trên mạng xã hội không chỉ nhằm cung cấp thông tin, giải đáp chính sách, pháp luật, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng dư luận và phản bác kịp thời các thông tin sai trái, xuyên tạc.

Việc ứng dụng các công cụ phân tích dữ liệu và trí tuệ nhân tạo để theo dõi, tổng hợp và phân tích dư luận xã hội trên không gian mạng sẽ giúp cơ quan nhà nước kịp thời nhận diện những vấn đề bức xúc, các “điểm nóng” dư luận. Trên cơ sở đó, chính sách và phương thức điều hành có thể được điều chỉnh phù hợp, tránh để mâu thuẫn xã hội tích tụ và phát sinh phức tạp. Đây là sự vận dụng linh hoạt và sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về công tác dân vận trong điều kiện mới, khi việc “nghe dân” không chỉ diễn ra trong các cuộc tiếp xúc trực tiếp, mà còn trên không gian số.

Thứ tư, nâng cao năng lực số cho đội ngũ cán bộ làm công tác dân vận.

Để thực hiện hiệu quả “dân vận số”, đội ngũ cán bộ, công chức cần được trang bị đầy đủ năng lực và kỹ năng phù hợp với môi trường số. Bên cạnh phẩm chất đạo đức và tinh thần trách nhiệm với Nhân dân, cán bộ dân vận cần được đào tạo về kỹ năng sử dụng công nghệ số, khai thác dữ liệu, bảo mật thông tin và ứng dụng các công nghệ mới trong quản lý nhà nước.

Cán bộ, công chức trong toàn hệ thống chính trị cần được bồi dưỡng kỹ năng giao tiếp, ứng xử trên không gian mạng theo hướng văn minh, thuyết phục và đúng mực. Vận dụng sáng tạo tinh thần “dân vận khéo” của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong môi trường số đòi hỏi cán bộ, công chức không chỉ am hiểu công nghệ, mà còn biết lắng nghe, đối thoại và giải thích chính sách một cách gần gũi, dễ hiểu, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước.

“Dân vận số” không làm mất đi giá trị truyền thống của phương pháp “gần dân, học dân” mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề ra, mà còn góp phần mở rộng và kéo dài “cánh tay nối dài” của Đảng và Nhà nước ta đến các tầng lớp Nhân dân, giúp cho các giá trị của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa được thực thi nhanh chóng, minh bạch và công bằng hơn trong bối cảnh phát triển mới.

Tài liệu tham khảo:

1, 2, 3, 5. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 6, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.126, tr.126, tr.129, tr.130-131.

4. Hồ Chí Minh, Toàn tập, tập 5, Nxb CTQG-ST, H.2011, tr.290-291.

6. Bộ Nội vụ (2024), Báo cáo kết quả thực hiện Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở giai đoạn 2022-2024.

7. Bộ Nội vụ (2025), Báo cáo cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2025.

8. Bộ Nội vụ (2024), Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước (SIPAS) năm 2023.

9. Thanh tra Chính phủ (2025), Báo cáo công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2024.

10. Bộ Thông tin và Truyền thông (2024), Báo cáo về chuyển đổi số và xã hội số ở Việt Nam năm 2023.

Đại diện lãnh đạo Ban Xây dựng Đảng và đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội ký kết biên bản chuyển giao chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận, ngày 28/8/2026. Đại diện lãnh đạo Ban Xây dựng Đảng và đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Yên Hòa, thành phố Hà Nội ký kết biên bản chuyển giao chức năng, nhiệm vụ tham mưu về công tác dân vận, ngày 28/8/2026.