Bài viết phân tích sự vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng trên ba phương diện cơ bản: tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội; bản chất và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội; mục tiêu, động lực và trở lực của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ những nội dung được kế thừa, những phương diện được cụ thể hóa và những điểm thể hiện sự phát triển sáng tạo trong nhận thức của Đảng về lý luận chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã DOANH NHÂN VIỆT NAM - KIẾN TẠO THỊNH VƯỢNG, PHỤNG SỰ TỔ QUỐC hội ở Việt Nam hiện nay.

Về tính tất yếu khách quan của chủ nghĩa xã hội

 

Tính tất yếu khách quan của chủ nghĩa xã hội là luận điểm có vị trí nền tảng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường phát triển của cách mạng Việt Nam. Luận điểm ấy được xác lập từ sự thống nhất giữa nhận thức lý luận về quy luật vận động của lịch sử nhân loại với sự khảo nghiệm nghiêm túc thực tiễn cách mạng thế giới và thực tiễn Việt Nam. Khi bàn về tiến trình phát triển của xã hội loài người, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Chế độ xã hội cũng phát triển từ cộng sản nguyên thủy đến chế độ nô lệ, đến chế độ phong kiến, đến chế độ tư bản chủ nghĩa và ngày nay gần một nửa loài người đang tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa và chế độ cộng sản chủ nghĩa. Sự phát triển và tiến bộ đó không ai ngăn cản được” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 11, tr.601). Cách đặt vấn đề của Người cho thấy, chủ nghĩa xã hội trước hết được nhìn nhận như một nấc thang phát triển hợp quy luật khách quan của lịch sử, xuất phát từ chính sự vận động nội tại của các hình thái kinh tế - xã hội.

Tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận diện từ kinh nghiệm lịch sử cụ thể của thời đại. Sau quá trình khảo nghiệm nhiều con đường cứu nước khác nhau, Người đi đến kết luận: “Trong thế giới bây giờ chỉ có cách mệnh Nga là đã thành công, và thành công đến nơi” (Hồ Chí Minh, 2011, tập 2, tr.280). Đây là bước chuyển căn bản trong tư duy chính trị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, từ chủ nghĩa yêu nước đến lập trường cách mạng vô sản. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga có ý nghĩa như một minh chứng lịch sử xác thực về khả năng hiện thực của chủ nghĩa xã hội. Vì vậy, đối với các dân tộc thuộc địa đang tìm kiếm con đường giải phóng, cách mạng vô sản và chủ nghĩa xã hội trở thành phương hướng duy nhất có khả năng đưa sự nghiệp giải phóng dân tộc đến thắng lợi triệt để.

Kế thừa và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội như một tất yếu lịch sử của cách mạng Việt Nam: “Đi lên chủ nghĩa 14 15 xã hội là khát vọng của Nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.26). Trong quan điểm này, Đảng ta nhấn mạnh cơ sở xã hội của con đường xã hội chủ nghĩa, coi đó là sự kết tinh khát vọng của Nhân dân về độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc và phát triển; đồng thời khẳng định đây là kết quả của một quá trình lựa chọn chính trị có căn cứ khoa học, được hình thành trong lịch sử đấu tranh cách mạng lâu dài của dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cùng với đó, Đại hội XIV tiếp tục đặt việc kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa trong mối quan hệ biện chứng với yêu cầu phát triển sáng tạo lý luận về đường lối đổi mới. Văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.372). Cách khẳng định ấy cho thấy tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội trong nhận thức của Đảng không mang nội hàm giáo điều, bất động, mà được đặt trong tiến trình vận động, bổ sung và phát triển không ngừng của lý luận cách mạng. Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là vấn đề có tính nguyên tắc; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận đổi mới là yêu cầu có tính phương pháp luận để hiện thực hóa mục tiêu ấy trong những điều kiện lịch sử mới. Như vậy, tính tất yếu của chủ nghĩa xã hội được hiểu vừa như một định hướng chiến lược nhất quán, vừa như một quá trình được nhận thức ngày càng đầy đủ hơn thông qua tổng kết thực tiễn và phát triển lý luận.

Một điểm nhấn có giá trị lý luận đáng chú ý trong Văn kiện Đại hội XIV là sự nhấn mạnh mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như một quy luật phát triển mang “tính đặc thù riêng có của Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.50). Quan điểm này cho thấy, Văn kiện Đại hội XIV đã phát triển thêm một bước nhận thức lý luận của Đảng ta về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, khi đặt mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tính quy luật gắn với điều kiện lịch sử - dân tộc cụ thể. Nếu ở bình diện khái quát, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một nguyên tắc chiến lược xuyên suốt của cách mạng Việt Nam, thì trong Văn kiện Đại hội XIV, mối quan hệ ấy được luận giải sâu hơn như một quy luật phát triển mang tính đặc thù riêng có của Việt Nam. 

Dân chủ, phát triển kinh tế hiện đại, tiến bộ và công bằng xã hội, xây dựng văn hóa và phát triển con người. Trước hết, ở phương diện chính trị, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh chủ nghĩa xã hội phải là chế độ do Nhân dân làm chủ. Người chỉ rõ: “Chế độ của ta là chế độ dân chủ. Nhân dân là chủ. Chính phủ là đày tớ của nhân dân” (Hồ Chí Minh, tập 9, 2011, tr.90); “Chính phủ của dân, do dân và vì dân” (Hồ Chí Minh, tập 2, 2011, tr.545); đồng thời, “mọi quyền lực trong xã hội đều tập trung trong tay nhân dân”, bởi “Nhân dân ta tự quyết định vận mệnh của mình” (Hồ Chí Minh, tập 15, 2011, tr.456). 

Đại hội XIV vận dụng trực tiếp tinh thần đó khi khẳng định: “Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.371). Điểm phát triển mới ở đây là quyền làm chủ của Nhân dân không chỉ được xác định như bản chất chính trị của chế độ, mà còn được đặt vào vị trí trung tâm của toàn bộ chiến lược phát triển quốc gia. Tư tưởng “dân là chủ, dân làm chủ” đã được Đại hội XIV phát triển thành quan điểm chỉ đạo có ý nghĩa phương pháp luận trong tổ chức và vận hành toàn bộ tiến trình phát triển đất nước.

Trên phương diện kinh tế, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ nhấn mạnh chế độ công hữu và nguyên tắc phân phối theo lao động, mà còn đặc biệt coi trọng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất. Người nêu rõ: “chủ nghĩa xã hội là lấy nhà máy, xe lửa, ngân hàng… làm của chung. Ai làm nhiều thì ăn nhiều, ai làm ít thì ăn ít, ai không làm thì không ăn, tất nhiên là trừ những người già cả, đau yếu và trẻ con” (Hồ Chí Minh, tập 10, 2011, tr.390); đồng thời, chủ nghĩa xã hội phải là một chế độ xã hội có nền kinh tế phát triển cao, gắn liền với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật. Đại hội XIV đã phát triển nhận thức này phù hợp với điều kiện mới khi khẳng định “nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam sẽ ngày càng phát triển” và việc phát triển đất nước phải dựa mạnh hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, kinh tế xanh, phải đề cao tinh thần trách nhiệm” (Hồ Chí Minh, tập 12, 2011, tr.87); đồng thời, “Tư tưởng thông suốt thì mọi việc làm đều tốt. Phải làm cho tư tưởng xã hội chủ nghĩa hoàn toàn thắng, tư tưởng cá nhân hoàn toàn thất bại” (Hồ Chí Minh, tập 11, 2026, tr.590). Đại hội XIV đã phát triển theo hướng mới, đặt trong yêu cầu chấn hưng đạo đức xã hội và xây dựng chuẩn mực giá trị mới, đó là: “xây dựng những giá trị và chuẩn mực đạo đức mới đáp ứng yêu cầu xây dựng và phát triển đất nước vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, tập II, 2026, tr.58). Điều đó cho thấy, từ yêu cầu đấu tranh với chủ nghĩa cá nhân trong tư tưởng Hồ Chí Minh, Đại hội XIV đã phát triển thành nhiệm vụ chủ động kiến tạo nền tảng đạo đức và hệ giá trị xã hội phù hợp với điều kiện phát triển mới.

Có thể thấy, ở phương diện bản chất và đặc trưng của chủ nghĩa xã hội, Văn kiện Đại hội XIV trước hết kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về một chế độ do Nhân dân làm chủ, hướng tới phát triển con người toàn diện, bảo đảm công bằng xã hội và xây dựng đời sống văn hóa, đạo đức tiến bộ. Trên nền tảng đó, Đại hội XIV đã cụ thể hóa các đặc trưng ấy thành những yêu cầu phát triển phù hợp với bối cảnh hiện nay, như hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển hài hòa giữa kinh tế với văn hóa, xã hội và môi trường. Điểm phát triển sáng tạo nổi bật của Đại hội XIV là việc mở rộng nội hàm đặc trưng văn hóa - xã hội của chủ nghĩa xã hội thông qua nhấn mạnh hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam như nền tảng tinh thần cho phát triển bền vững.