← E-Magazine

CHUYÊN TRANG ĐA PHƯƠNG TIỆN

Xây dựng mô hình chăm sóc dinh dưỡng cho người cao tuổi phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam

XÂY DỰNG MÔ HÌNH CHĂM SÓC DINH DƯỠNG

CHO NGƯỜI CAO TUỔI

PHÙ HỢP VỚI THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Trong những năm qua, công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi luôn nhận được sự quan tâm thiết thực của cả hệ thống chính trị và cộng đồng xã hội. Để thích ứng với già hóa dân số, Đảng và Nhà nước đã ban hành các chính sách, chương trình chăm sóc sức khỏe, chăm sóc dinh dưỡng cho người cao tuổi và việc triển khai thực hiện đã đạt những kết quả rất quan trọng. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện cũng bộc lộ một số khó khăn vướng mắc. Bài viết tập trung phân tích thực trạng, nhận định, đánh giá và đưa ra một số giải pháp hướng tới chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người cao tuổi, phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam.

Thực trạng già hóa dân số và nhu cầu thực tiễn đối với chăm sóc dinh dưỡng người cao tuổi gắn với nguyên lý y học gia đình

Thực trạng già hóa dân số

Thế kỷ XXI được xác định là thế kỷ già hóa dân số. Trên thế giới, từ năm 2000 đến năm 2050, tỷ lệ dân số trên 60 tuổi sẽ tăng gấp đôi từ 11% đến 22% (WHO, 2016). Tại các nước ASEAN có gần 60 triệu người cao tuổi (NCT) chiếm 9,3% tổng dân số; dự báo đến năm 2050 sẽ tăng lên 24% và trở thành khu vực dân số già.

Từ năm 2011, Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già hóa dân số; đến năm 2022, cả nước có khoảng 12,56 triệu NCT (từ 60 tuổi trở lên) chiếm 12% dân số (Tổng cục Thống kê, 2022). Theo dự báo, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Theo số liệu thống kê năm 2009, cả nước có 7.200 cụ trên 100 tuổi. Hiện, cứ khoảng 11 người dân thì có 01 NCT, dự báo đến năm 2030 sẽ ở mức 06 người dân thì có 01 NCT. Tuổi thọ bình quân tăng, số lượng NCT tăng là biểu hiện đáng mừng, cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn trong việc cải thiện đáng kể về y tế, dinh dưỡng và phát triển kinh tế - xã hội, đời sống vật chất của người dân được nâng cao.

Nhu cầu chăm sóc dinh dưỡng người người cao tuổi gắn với nguyên lý y học gia đình

Thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) cho thấy, người Việt Nam có tuổi thọ trung bình cao (73,7 tuổi) nhưng số năm sống khỏe mạnh chỉ vào khoảng 65,3 tuổi (WHO, 2023). Người cao tuổi đang mang gánh nặng bệnh tật kép (khoảng 95% NCT có bệnh, chủ yếu là bệnh mãn tính không lây nhiễm), đồng thời cũng chủ yếu là những bệnh có liên quan chặt chẽ với gánh nặng kép về dinh dưỡng. Trung bình 01 NCT Việt Nam mắc 3 bệnh đi kèm như bệnh đái tháo đường, tăng huyết áp, loãng xương, suy tim… Đáng lo ngại, là những bệnh này nếu chăm sóc không đúng cách thì biến chứng ngày càng nhiều, nặng dần sẽ gây quá tải bệnh viện và để lại gánh nặng kinh tế, tinh thần lâu dài cho cả gia đình và xã hội.

Để giải quyết vấn đề chăm sóc NCT trong tình trạng mang gánh nặng kép cả về bệnh mạn tính và dinh dưỡng, đòi hỏi phải nghiên cứu, xác định luận cứ khoa học để vừa có giải pháp cộng đồng vừa có giải pháp cá thể hóa. Điều đó không thể tách rời các nguyên lý của y học gia đình.

Công tác chăm sóc người cao tuổi - kết quả và thách thức

Năm 2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1579/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030. Nội dung chủ yếu của chương trình là tập trung chăm sóc sức khỏe NCT dựa vào cộng đồng, trong đó chăm sóc dinh dưỡng là một hợp phần không thể thiếu. Từ đó, các bộ, ngành, UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đều đã có những văn bản chỉ đạo, quan tâm đến chăm sóc NCT.

Tại các vùng, miền đều có tiềm năng đảm bảo an ninh thực phẩm gắn liền với an ninh dinh dưỡng, có khả năng phong phú về các loại thảo dược, nhiều bài thuốc nam lưu truyền được phát huy, những bài thuốc nam từ vườn nhà có thể tạo ra nước uống hàng ngày vừa mang bản sắc văn hóa ẩm thực vừa là thức ăn, vừa là thuốc, qua đó hỗ trợ nâng cao sức khỏe NCT. Hàng năm, các địa phương đều đã đầu tư cho các đề tài nghiên cứu khoa học liên quan đến việc chăm sóc NCT, trong đó có cả đề tài thuộc lĩnh vực y sinh học và đề tài nghiên cứu thuộc lĩnh vực xã hội học. Đáng chú ý là, các nghiên cứu khi đưa ra những khuyến nghị về mô hình liên ngành chăm sóc NCT dựa vào cộng đồng, bởi chính cộng đồng nhưng lại gặp khó khăn khi nhân ra diện rộng. Bên cạnh các cơ sở dưỡng lão công lập thuộc Trung tâm bảo trợ xã hội (trước đây thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nay thuộc Sở Y tế), đã xuất hiện các trung tâm dưỡng lão ngoài công lập, song do chưa có chính sách hỗ trợ các cơ sở an sinh xã hội ngoài công lập trong chăm sóc NCT nên mô hình này chưa phát triển.

Hàng năm, các địa phương cũng chú trọng tổ chức tập huấn, truyền thông cho cán bộ phụ trách công tác NCT ở cấp xã về kỹ năng chăm sóc NCT tại cộng đồng. Phong trào xây dựng các loại quỹ để chăm sóc NCT được sự quan tâm và tích cực đóng góp của cộng đồng, trong đó có “Quỹ chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi”, Quỹ “Phụng dưỡng ông bà - cha mẹ”. Nhiều xã đều có CLB tham gia luyện tập dưỡng sinh, CLB Liên thế hệ chăm sóc NCT. Phong trào đã được nhận rộng ở các địa phương, song chưa có sự xâu chuỗi thành chương trình mang tính toàn diện.

 

Người cao tuổi khám bệnh tại mô hình “Nhà văn hóa hạnh phúc” và mô hình “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” phường Phúc Lợi, thành phố Hà Nội. Người cao tuổi khám bệnh tại mô hình “Nhà văn hóa hạnh phúc” và mô hình “Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi” phường Phúc Lợi, thành phố Hà Nội.

Bữa ăn ở cơ sở dưỡng lão bán trú thuộc Điểm y tế Thạch Bàn, thành phố Hà Nội. Bữa ăn ở cơ sở dưỡng lão bán trú thuộc Điểm y tế Thạch Bàn, thành phố Hà Nội.

Trên thực tế, công tác chăm sóc sức khỏe NCT vẫn gặp nhiều khó khăn, bất cập do cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ, chưa tạo ra quy chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với tổ chức Hội và các ban, ngành chuyên môn liên quan. Mạng lưới y tế cơ sở và tổ chức Hội NCT tuyến cơ sở còn thiếu cả về số lượng cũng như kỹ năng kinh nghiệm phối hợp trong hoạt động đồng bộ để chăm sóc xã hội, chăm sóc dinh dưỡng và chăm sóc y tế cho NCT phòng, chống các bệnh mới nổi, bệnh mạn tính không lây nhiễm. Một số Hội cơ sở và đội ngũ cán bộ có tư tưởng trông chờ, chưa tranh thủ sự giúp đỡ của các nhà tài trợ để triển khai các hoạt động của Hội. Công tác tuyên truyền, tập hợp, thu hút và quản lý hội viên chưa đạt chỉ tiêu đề ra.

Nguồn kinh phí hỗ trợ hoạt động chăm sóc NCT chưa đáp ứng yêu cầu, trong khi cơ chế xã hội hóa chăm sóc NCT chưa khuyến khích đủ mạnh để huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Đời sống của một bộ phận NCT còn khó khăn, nhiều cụ già neo đơn, không có lương hưu hay trợ cấp xã hội, bệnh tật kéo dài, chưa được chăm sóc đầy đủ cả về vật chất lẫn tinh thần.

Từ thực tế hoạt động chăm sóc NCT tại các địa phương, thời gian tới cần phải tiếp tục đổi mới phương thức hoạt động của mô hình CLB liên thế hệ chăm sóc NCT, cũng như các câu lạc bộ NCT, nhất là tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Hoạt động này đang bị hạn chế bởi nguồn nhân lực và cơ chế phối hợp liên ngành; các chương trình cũng chưa thực sự mang tính chiến lược, đồng bộ giữa các giải pháp. 

 

Phân chia nhu cầu chăm sóc sức khỏe người cao tuổi theo các nhóm chính

Yêu cầu đặt ra là cần xây dựng những mô hình chăm sóc NCT với những hình thức phong phú dựa vào cộng đồng, bởi chính cộng đồng kết hợp với sự nối dài khả năng phục vụ tại cộng đồng của các Trung tâm Dưỡng lão, của các bệnh viện lão khoa mà trong đó cần có sự khép kín thành một chu trình quản lý chăm sóc từ tập trung đến cá thể hóa, từ bệnh viện/hoặc nhà dưỡng lão đến cộng đồng và từ cộng đồng đến bệnh viện/hoặc nhà dưỡng lão mà trung gian chính là các mô hình CLB chăm sóc người cao tuổi dựa vào cộng đồng, bởi cộng đồng và không tách rời các nguyên lý của y học gia đình.

Từ thực tế hiện nay, có thể phân chia nhu cầu chăm sóc NCT thành 4 nhóm theo 4 cấp độ tổ chức như sau:

Một là, nhóm người cao tuổi được chăm sóc dưới hình thức tổ chức các câu lạc bộ dựa vào cộng đồng. Ưu điểm lớn nhất của các CLB này là khả năng huy động cộng đồng cùng tham gia, thu hút nhiều thế hệ, nhiều nguồn lực và bản thân những NCT còn khỏe mạnh có thể chủ động đứng ra tổ chức các CLB cho chính mình. Các CLB sẽ truyền thông cho NCT biết tự xây dựng chế độ dinh dưỡng hợp lý theo thực đơn khoa học, ăn, điều trị theo bệnh lý và chế độ ăn kiêng. Hàng ngày, nhân viên chăm sóc y tế có thể hỗ trợ để họ được xoa bóp, bấm huyệt, châm cứu, tập luyện, tắm hơi, xông hơi, ngâm chân tùy theo tình trạng sức khỏe mỗi người, buổi chiều, các cụ được đưa đến sân tập, sinh hoạt tập thể, mỗi người một việc, người đọc báo, người thư giãn… Đây là nhu cầu cấp thiết của đại đa số NCT tại các gia đình hiện nay, nhưng trước tác động của cuộc sống hiện đại, từ văn hóa cho đến môi trường sống của NCT đã có nhiều sự thay đổi.

Hai là, nhóm người cao tuổi được chăm sóc tại các trung tâm dưỡng lão bán trú. Đây là hình thức tổ chức sinh hoạt rất mở cho NCT, nhưng còn quá mới đối với Việt Nam, hiện chỉ có ở một vài thành phố với giá phí khá cao và chỉ đáp ứng được cho những NCT còn khả năng tự đi lại được. 

Ba là, nhóm người cao tuổi được chăm sóc nội trú tại các trung tâm dưỡng lão. Trung tâm dưỡng lão là nơi để NCT tham gia các sinh hoạt tập thể, được chăm sóc y tế, được hỗ trợ về tinh thần. Xã hội và gia đình luôn nhận thức rằng NCT cần được quan tâm đầu tư nuôi dưỡng, nghỉ dưỡng đầy đủ để kéo dài tuổi thọ, mang lại nguồn động viên tinh thần cho con cháu và xã hội. Ngày càng nhiều NCT có nhu cầu được sống trong trung tâm dưỡng lão, để được bác sĩ, điều dưỡng thường xuyên kiểm tra và theo dõi sức khỏe, chế độ ăn hợp lý theo tuổi tác và sống trong môi trường cộng đồng bằng hữu để sẻ chia những vấn đề trong cuộc sống và để con cháu được an tâm công tác, đặc biệt là những NCT đã không còn vợ/chồng thì nhu cầu này ngày càng gia tăng.

Tuy nhiên trên thực tế, số trung tâm dưỡng lão rất ít so với nhu cầu xã hội, đồng thời không phải tất cả NCT có nhu cầu đều có thể vào sinh sống nội trú vì khả năng chi trả của NCT rất hạn chế, nhất là những NCT không có lương hưu hoặc lương hưu quá thấp. Vì thế, cần có những mô hình chăm sóc NCT tại cộng đồng phù hợp với nhu cầu phát triển xã hội hiện nay.

Bốn là, nhóm người cao tuổi được chăm sóc, điều trị nội trú tại các bệnh viện lão khoa. Các bệnh mạn tính không lây nhiễm theo NCT đến trọn đời với ngày càng nhiều biến chứng và biến chứng ngày càng nặng nề hơn, tạo nên gánh nặng quá tải cho hệ thống y tế. Ở góc độ khác, NCT chỉ đến bệnh viện khám định kỳ hoặc nhập viện khi phải cấp cứu, còn thường nhật họ vẫn cần được quản lý, chăm sóc, điều trị tại nhà phù hợp với từng cá thể. Nhu cầu xã hội đang đòi hỏi cấp bách đưa ra mô hình chăm sóc toàn diện cho NCT theo hướng có nội dung hoạt động phù hợp theo kịp với sự phát triển về dân trí cũng như phát triển của nền kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước; có cơ chế tổ chức, quản lý vừa huy động được số NCT còn sức khỏe để cống hiến cho xã hội.

Mô hình “Viện trong Viện” tại Phương Đông Asahi, số 9, phố Viên, Đông Ngạc, Hà Nội mang đến sự an tâm cho cả người cao tuổi và gia đình. Mô hình “Viện trong Viện” tại Phương Đông Asahi, số 9, phố Viên, Đông Ngạc, Hà Nội mang đến sự an tâm cho cả người cao tuổi và gia đình.

Một số giải pháp chăm sóc sức khỏe toàn diện cho người cao tuổi

Từ kết quả hoạt động, những khó khăn, thuận lợi và nhu cầu chăm sóc NCT ở Việt Nam, cần có giải pháp đồng bộ, góp phần hình thành chuỗi mô hình đáp ứng nhu cầu chăm sóc NCT, phù hợp với từng khu vực, có thể theo phương án lấy NCT làm trung tâm với phương châm coi họ vừa là đối tượng được chăm sóc, vừa là lực lượng chủ công trong tổ chức, quản lý liên ngành tham gia hoạt động trong mô hình chăm sóc NCT dưới sự chỉ đạo của các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương gắn với mục tiêu phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội.

Trước mắt, cần nghiên cứu đầu tư xây dựng mô hình chăm sóc NCT ở một số xã/phường khu vực đồng bằng, có điều kiện về kinh tế - xã hội cơ bản ổn định, từ đó nhân rộng với 03 nội dung như sau:

Một là, về chăm sóc xã hội: hiện nay ở các xã/phường đều có nhà văn hóa, các cơ sở hạ tầng công cộng còn dôi dư sau sáp nhập. Nếu được phép của UBND xã/phường thì có thể phối hợp xã hội hóa để xây dựng thí điểm một số trung tâm chăm sóc NCT ban ngày, có các phòng vui chơi, phòng phục hồi chức năng, phòng ăn nghỉ trưa (bán trú cho NCT có nhu cầu), có công viên cây xanh kết hợp luyện tập ngoài trời, nhiều hoạt động có thể được xã hội hóa một phần.

Những xã/phường chưa xây dựng được trung tâm chăm sóc NCT bán trú thì đầu tư xây dựng không gian xanh cho các nhà văn hóa thôn, xã/phường, đầu tư trang thiết bị tạo môi trường giao lưu cộng đồng NCT.

Xây dựng cơ chế tổ chức, hoạt động, quản lý hợp tác liên ngành trong chăm sóc NCT tại khu dân cư, giao Hội NCT làm đầu mối chủ trì, Trung tâm y tế xã làm nòng cốt chuyên môn sức khỏe, Hội Liên hiệp Phụ nữ và Hội Cựu chiến binh làm nòng cốt về công tác xã hội. Chủ động thành lập các nhóm nòng cốt thu hút ngày càng nhiều NCT vào hoạt động, đưa các hình thức sinh hoạt chăm sóc NCT tiếp cận đến NCT cô đơn, độc thân, không nơi nương tựa. Tổ chức các hội thi, giao lưu trao đổi kinh nghiệm, động viên các đội nhóm điển hình để nhân rộng ra cộng đồng.

Hai là, chăm sóc dinh dưỡng, điều dưỡng tại cộng đồng nhằm phòng, chống bệnh mạn tính không lây nhiễm. Ban Chấp hành Hội Người cao tuổi cơ sở tiên phong vận động xây dựng tài liệu truyền thông, sân khấu hóa, thơ ca hóa các thông điệp truyền thông về dinh dưỡng, điều dưỡng, chăm sóc NCT mắc bệnh. Tổ chức các buổi sinh hoạt đọc thơ, bình thơ, văn nghệ truyền thông sức khỏe cho cộng đồng. Hội NCT chủ động xây dựng kế hoạch để Trung tâm y tế hỗ trợ tập huấn, xây dựng mạng lưới cán bộ NCT, phụ nữ, cựu chiến binh có đủ kiến thức, kỹ năng cần thiết để cộng tác triển khai chăm sóc dinh dưỡng, điều dưỡng cho NCT tại hộ gia đình. Hội NCT phối hợp với ngành y tế tổ chức tập huấn, vận động thực hiện nuôi trồng, chế biến, sử dụng thảo dược địa phương tạo ra nước uống, món ăn làm thuốc, dầu xoa, nước ngâm chân phù hợp với từng bệnh mà NCT đang mắc.

Ba là, chăm sóc y tế: Hội NCT cơ sở làm cầu nối tạo điều kiện thuận lợi cho các bác sĩ gia đình tiếp cận quản lý chăm sóc định kỳ, hỗ trợ tuân thủ điều trị, phòng, chống biến chứng cho NCT có bệnh mạn tính được điều trị ngoại trú; mời cán bộ y tế làm nòng cốt trong xây dựng và phổ biến ứng dụng tài liệu hướng dẫn các bài thuốc từ vườn nhà; tư vấn cho NCT và gia đình sử dụng thuốc theo đúng đơn của bác sĩ, tránh lạm dụng thuốc, tránh tự ý mua thuốc để điều trị; chủ động tổ chức liên ngành, xã hội hóa để hỗ trợ vừa khám sức khỏe vừa tư vấn dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe định kỳ cho NCT.

Các sản phẩm tại Genki Plaza thuộc chuỗi hệ thống Genki được chọn lựa phù hợp với sức khỏe và nhu cầu của người cao tuổi. Các sản phẩm tại Genki Plaza thuộc chuỗi hệ thống Genki được chọn lựa phù hợp với sức khỏe và nhu cầu của người cao tuổi.

Tài liệu tham khảo:

1. WHO (2016), Chiến lược và kế hoạch hành động toàn cầu đối với vấn đề lão hóa và sức khỏe.

2. Tổng cục Thống kê, Niên giám thống kê năm 2022.

3. Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2023), World Health statistics.